Latest Entries »

Bệnh nhân nữ, 58 tuổi, người Mỹ được chuyển tới chúng tôi từ một bệnh viện lớn của nước ngoài, sau 1 ngày đau bụng cơn dữ dội kèm nôn và bí trung tiện. Hỏi bệnh và thăm khám: người bệnh có tiền sử mổ viêm ruột thừa vỡ cách 16 năm, đau cơn đỡ hơn nhưng bắt đầu sốt, bụng chướng, có điểm đau chói vùng hạ vị bên phải, cách xa đường mổ viêm ruột thừa cũ-một đường ngang vùng hố chậu phải. Xquang bụng thường quy có hình mức nước-hơi ở ruột non, CTscanner thấy các quai ruột non giãn, chứa dịch, đại tràng hoàn toàn xẹp, và đặc biệt các bác sĩ xquang đã thấy một dấu hiệu vô cùng quan trọng đó là một quai ruột non giãn to và chân hẹp ở vùng tiểu khung, gợi ý bệnh cảnh của xoắn hay nghẹt ruột.

CTscanner: quai ruột giãn và chân hẹp.

CTscanner: quai ruột giãn và chân hẹp.

CTscanner: bình diện cắt ngang

CTscanner: bình diện cắt ngang

Với bệnh cảnh lâm sàng kết hợp với CĐHA như vậy, bệnh nhân được quyết định mổ nội soi cấp cứu ngay sau đó với chẩn đoán ban đầu-xoắn ruột.

Hình ảnh trong mổ:

Trong ổ bụng có máu không đông

Trong ổ bụng có máu không đông

Các

Các quai ruột non giãn

Quai hỗng tràng nghẹt nhồi máu và hoại tử

Quai hỗng tràng nghẹt nhồi máu và hoại tử, rất khó khăn để kéo được ra khỏi vòng thoát vị

Cắt mở rộng vòng thoát vị để kéo ruột ra

Cắt mở rộng vòng thoát vị để kéo ruột ra

Vòng thoát vị là do có lỗ hổng ở dây chằng rộng bên phải(bình thường phải kín.

Vòng thoát vị được tạo thành do tồn tại một lỗ hổng bất thường ở dây chằng rộng bên phải (bình thường phải kín).

Khâu kín lỗ thoát vị

Khâu kín lỗ thoát vị

Quai ruột hoại tử được kéo ra ngoài qua đường mở nhỏ qua sẹo mổ viêm ruột thừa trước đó

Quai ruột hoại tử được kéo ra ngoài qua một đường mở nhỏ qua sẹo mổ cũ viêm ruột thừa trước đó

Đoạn ruột hoại tử  khoảng 20cm được cắt bỏ ngoài ổ bụng và nối tận-tận.

Sau mổ bệnh nhân hết đau, trung tiện và đi lại vào ngày thứ 2, hồi phục và ra viện ngày thứ 5 sau mổ.

Thoát vị nội hiếm gặp, và nếu có gặp thì chủ yếu ở các bệnh nhân sau mổ cắt nối ống tiêu hóa mà không hoặc đóng mạc treo ruột quá thưa đủ để ruột chui qua. Thoát vị dây chằng rộng chỉ chiếm 4 đến 7% các thoát vị nội.

Chẩn đoán thoát vị nội khó dù việc chẩn đoán tắc ruột là khá dễ dàng. CTscanner có thể gợi ý thoát vị nội xong chẩn đoán xác định thoát vị dây chằng rộng gần như vẫn là điều không thể.

Tham khảo:

Broad ligament Hernia-Associated Bowel Obstruction. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3015788/

Intestinal obstruction secondary  to incarcerated broad ligament hernia: a case report.  https://www.oapublishinglondon.com/article/559

 

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com
Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

Tóm tắt

Bài viết này, tôi mô tả Thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (thoát vị Grynfeltt-Lesshaft) ở một bệnh nhân nam 57 tuổi, một loại thoát vị rất hiếm gặp, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Xanh Pôn tháng 5 năm 2013. Qua đó điểm lại y văn về lịch sử, giải phẫu, lâm sàng, chẩn đoán và điều trị loại thoát vị này.

Summary

This article, I describe a Superior Lumbar Triangle hernia (Grynfeltt-Lesshaft hernia) of a 57 year old male patient, a very rare type of hernia, treated by laparoscopic surgery at Saint Paul Hospital in May 2013. And review history, anatomy, clinical diagnosis and treatment of this rare type of hernia.

Lịch sử

Thoát vị thắt lưng rất hiếm [1], chưa có y văn nào cho ra tần suất gặp loại thoát vị này trong cộng đồng. Năm 1672, Paul Barbette được cho là đã mô tả thoát vị thắt lưng khi ông viết “kinh nghiệm đã dạy tôi rằng phúc mạc có thể vỡ mặt sau của hướng về phía lưng, do đó tạo thành một thoát vị” [2]. DeGarangeot mô tả ca thoát vị thắt lưng đầu tiên năm 1731 khi mổ tử thi. Năm 1750, Ravaton, người đầu tiên thông báo phẫu thuật thành công ca thoát vị thắt lưng nghẹt [1, 2].

Petit năm 1783 mô tả ca thoát vị nghẹt qua tam giác thắt lưng dưới và ngày nay thoát vị này mang tên ông. Một thế kỷ sau, Grynfeltt mô tả thoát vị qua tam giác thắt lưng trên phân biệt với thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới (thoát vị Petit). Năm 1870 Lesshaft khẳng định có sự tồn tại tách biệt thoát vị tam giác thắt lưng trên và thông báo một ca lâm sàng. Năm 1890, Macready tập hợp qua y văn được 25 ca, trong đó có 2 ca thoát vị qua tam giác thắt lưng trên và gọi đó là khoang Grynfeltt-Lesshaft từ đó có thuật ngữ thoát vị Grynfeltt-Lesshaft [1].

Năm 1925, Virgilio tập trung y văn được 109 ca và thấy rằng thoát vị  Grynfeltt-Lesshaft hay gặp hơn thoát vị  Petit [3]. Năm 1948, Watson tập trung được 186 ca qua y văn thế giới [4]. Năm 1971, theo Thomas có khoảng 220 ca [1]. Số liệu gần đây nhất, năm 2008, Satish cho rằng có khoảng 300 ca [5].

Giải phẫu

Hai vị trí thoát vị thắt lưng thường gặp là thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (Grynfeltt-Lesshaft) và thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới (Petit).

Sơ đồ giải phẫu của tam giác thắt lưng trên và dưới

Sơ đồ giải phẫu của tam giác thắt lưng trên và dưới

Goodman và Speese qua phẫu tích 76 xác thấy rằng tam giác thắt lưng trên xuất hiện ở hơn 93% xác. Giới hạn bởi: bờ dưới xương sườn 12 và một phần của cơ răng sau dưới, giới hạn trong bởi cơ vuông thắt lưng, ngoài bởi cơ chéo trong. Nền của tam giác là mạc ngang. Điểm yếu của tam giác thắt lưng trên nằm ngay dưới xưng sườn 12, nơi không được che phủ bởi cơ chéo ngoài và là nơi đi ra của bó mạch thần kinh liên sườn 12.

Tam giác thắt lưng dưới được giới hạn dưới bởi mào chậu, bờ tự do của cơ rộng lưng, cơ chéo ngoài. Nền cân cơ của tam giác này mạnh hơn nhiều tam giác thắt lưng trên.

Ca lâm sàng

Bệnh nhân nam 57 tuổi, vào viện vì xuất hiện khối phồng vùng thắt lưng bên phải khoảng 3 tháng, không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuật trước đây. Khối này thay đổi kích thước, đôi khi làm bệnh nhân đau và chướng bụng.  Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa trong giới hạn bình thường.


Hình ảnh khối phồng khi cho bệnh nhân rặn

Hình ảnh khối phồng khi cho bệnh nhân rặn

Chụp CT scanner ổ bụng: Nội dung thoát vị là đại tràng.

Chụp CT scanner ổ bụng: Nội dung thoát vị là đại tràng (mũi tên).

Lỗ và bao thoát vị sau khi đã kéo đại tràng ra ngoài

Lỗ và bao thoát vị sau khi đã kéo đại tràng ra ngoài

Cơ thành bụng sau, lỗ thoát vị sau khi đã bóc tách phúc mạc và lật đại tràng phải, thận phải vào trong.

Cơ thành bụng sau, lỗ thoát vị sau khi đã bóc tách phúc mạc và lật đại tràng phải, thận phải vào trong.

Đặt mesh và cố định mesh

Đặt mesh và cố định mesh

Khâu lại phúc mạc che phủ mesh bằng chỉ V-Lock

Khâu lại phúc mạc che phủ mesh bằng chỉ V-Lock

Đóng xong phúc mạc che phủ mesh.

Đóng xong phúc mạc che phủ mesh.

Sau mổ bệnh nhân được đeo đai bụng tăng cường.

Sau mổ bệnh nhân được đeo đai bụng tăng cường.

Bệnh nhân sau mổ ngày thứ 5, khi bỏ đai lưng.

Bệnh nhân sau mổ ngày thứ 5, khi bỏ đai lưng.

Sau mổ diễn biến tốt. Bệnh nhân đước hướng dẫn ngồi sớm, tập vận động, mang đai lưng. Ra viện ngày thứ 7 sau mổ.

Bàn luận.

Về tỷ lệ, phân loại và biến chứng:

  • Tỷ lệ: Thoát vị thắt lưng hiếm gặp, chưa có tài liệu nào cho biết tỷ lệ bệnh trong cộng đồng. Watson năm 1948 tổng hợp được 186 ca thoát vị thắt lưng qua các báo cáo tiếng Anh và nước ngoài. Năm 1971 Thomas ước chừng có 220 ca. Con số thực của thoát vị thắt lưng không rõ, một số tác giả ước đoán khoảng 300 ca [3, 5].
  • Phân loại: 1) Theo bệnh sinh: Có bẩm sinhmắc phải. Trong nhóm mắc phải lại chia thành tự phátsau chấn thương, phẫu thuật. 10-20% các thông báo thoát vị thắt lưng là thoát vị bẩm sinh. Trong thoát vị thắt lưng bẩm sinh chủ yếu qua tam giác thắt lưng dưới [5]. Thoát vị thắt lưng tự phát chiếm 54% các thông báo ca lâm sàng. Những yếu tố liên quan với thoát vị thắt lưng tự phát này bao gồm: tuổi, sút cân quá mức, bệnh mãn tính. Thoát vị thắt lưng mắc phải do chấn thương chiếm khoảng 26% và có lẽ thoát vị qua tam giác thắt lưng trên thường gặp hơn thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới vì đường mổ thường ở vùng này và vì đây cũng là vùng mỏng nhất của thành bụng sau bên [1]. Rất hiếm gặp thoát vị hai bên, nếu có thì thường kèm các bất thường bẩm sinh khác [5, 6]. 2) Theo nội dung thoát vị: Không có phúc mạc hay ngoài phúc mạc (extraperitoneal) thoát vị không có bao là phúc mạc, Phúc mạc, phúc mạc dính với các tạng trong ổ bụng chui vào lỗ thoát vị khi có tăng áp lực ổ bụng (paraperitoneal) và trong phúc mạc, phúc mạc tạo thành túi thoát vị thực sự và bao quanh nội dung thoát vị (intraperitoneal).
  • Biến chứng: Watson thấy 8% trong 186 thoát vị thắt lưng có nghẹt [4], Goodman và Speese thấy 24% các bệnh nhân có đau [2]. Phần lớn các thoát vị thắt lưng là tự phát sau khi nhấc một vật nặng [4].
  • Nội dung thoát vị: là mạc nối, ruột non, đại tràng, thận, dạ dày, buồng trứng, lách, ruột thừa [2, 5].
  • Bệnh nhân thông báo ở bài viết này có thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (thoát vị Grynfeltt-Lesshaft) mắc phải, tự phát, không nghẹt và nội dung thoát vị là đại tràng lên.

Về chẩn đoán bệnh:

  • Triệu chứng của thoát vị thắt lưng không biến chứng rất mờ nhạt, có thể là cảm giác tức nặng vùng thắt lưng, đau lưng, khối phồng vùng thắt lưng khi cho bệnh nhân rặn (nghiệm pháp Valsalva) [2, 7, 8].
  • Chụp cắt lớp vi tính cho phép chẩn đoán xác định bệnh, chẩn đoán phân biệt với các tổn thương dạng khối (u, tụ máu, abces…) đồng thời cho biết nội dung thoát vị [7, 8].

Về điều trị.

  • Tất cả các thoát vị thắt lưng đều nên được sửa chữa trừ khi tình trạng toàn thân không đảm bảo phẫu thuật. Lee và Mattheis khuyên đợi đến 6 tháng tuổi nếu là thoát vị thắt lưng ở trẻ em [9].
  • Mổ mở, cắt bỏ bao thoát vị, khâu kín cổ bao khâu với màng xương sườn 12, khâu cơ răng sau dưới với cơ chéo trong [1]. Phẫu thuật mổ mở cũng có thể sử dụng mesh khi thoát vị lớn, khâu cơ đơn thuẩn sẽ yếu và căng đường khâu [10, 11].
  • Phẫu thuật nội soi đặt mesh cho kết quả tốt, ưu điểm hơn với mổ mở truyền thống về sự giảm đau sau mổ, biến chứng, tỷ lệ tái phát gần. Mổ mở chỉ được khuyến nghị khi đường kính thoát vị lớn hơn 15 cm [12].

Tài liệu tham khảo

1.         Thomas, W.O., Hernia of the Superior Lumbar Triangle. Annals of Surgery February 1971. 173(2): p.       294-297.

2.         Goodman, E.H. and J. Speese, Lumbar hernia. Annal of Surgery, 1916. 65(5): p. 548-560.

3.         Manuel, E.L.B., J.F.B. F., and D.R. Andrea, Hernia bilateral de Grynfeltt. Informe de un caso. Revista Médica 2003. 41(4): p. 339-343.

4.         Watson, L.F., Hernia. St. Louis, C. V. Mosby Company, 1948.: p. 443-447.

5.         Satish, P., et al., Congenital Lumbar Hernia. JK SCIENCE, 2008. 10(3): p. 144-145.

6.         Prasad, S.J.T.a.R., Uncommon Hernias. Fundamentals of Pediatric Surgery, 2011: p. 543-546.

7.         Diego, A.G., C.; Claude, S., Abdominal Wall Hernias: MDCT Findings. American Journal of Roentgenology, 2004. 183: p. 681-690.

8.         Giordano, R.T.A., et al., Grynfeltt-Lesshaft hernia. Annals of Gastroenterology, 2012. 25(64).

9.         Lee, C.M.J. and H. Mattheis, Congenital Lumbar Hernia Archives of Disease in Childhood, 1957: p. 32-42.

10.       Solaini, L., et al., A very simple technique to repair GrynfelttLesshaft hernia. Hernia, 2010. 14(4): p. 439-441.

11.       Yoshiaki, S., Y. Ippei, and I. Nario, Two Cases of Idiopathic Superior Lumbar Hernia. Medical bulletin of Fukuoka University, 2012. 39: p. 277-280.

12.       Moreno-Egea, A., A.C. Alcaraz, and M.C. Cuervo, Surgical Options in Lumbar Hernia: Laparoscopic Versus Open Repair. A Long-Term Prospective Study. Surgical Innovation, 2012.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com
Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

Một ca bệnh hy hữu. Bệnh nhân nữ 38 tuổi vào viện trong ca trực của chúng tôi với cái bàng quang vỡ đã nhiều ngày.

Tám ngày trước bệnh nhân sinh con thứ 2, đẻ thường tại một bệnh viện phụ sản thành phố. Sau sinh có đau nhẹ vùng hạ vị xong chị cho đó là bình thường sau đẻ, không sốt, đại tiện bình thường, tiểu tiện được nhưng số lượng ít.

Khám lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh nhưng vẻ mặt mệt mỏi với nước da xanh tái nhiễm độc, không sốt, bụng chướng rất to và đau. Đặt sond niệu đạo nước tiếu trong ra luôn 300ml. Siêu âm lúc đầu thấy rất nhiều dịch trong ổ bụng.

Xét nghiệm:

Công thức máu: không thấy tình trạng thiếu máu, nhưng bạch cầu tăng cao: 20,000BC/ml;

Sinh hóa máu cho thấy ure =20mmol/l và creatinin=400mmol/l.

Từ những bằng chứng trên chúng tôi nghi ngờ vỡ bàng quang mặc dù không có tiền sử chấn thương trước đó.

Siêu âm kiểm tra kết hợp bơm nước muối sinh lý qua sonde niệu đạo chứng minh thủng bàng quang khi thấy dòng nước phụt từ bàng quang vào ổ bụng .

Bệnh nhân sau đó được phẫu thuật nội soi khâu lại chỗ vỡ, làm sạch và dẫn lưu ổ bụng. Trong mổ, 6 lít nước tiểu trong ổ bụng đã được hút ra ngoài.

IMG_4906

Ổ bụng với 6 lít nước tiểu

IMG_4909

Lỗ thủng ở thành bàng quang

IMG_4911

Kiểm tra và tách biệt hai thành bàng quang trước khi khâu

Video [phẫu thuật].

Sau mổ bệnh nhân diễn biến tốt. Có trung tiện sau một ngày, các dẫn lưu ra ít dịch trong, nước tiểu trong, không sốt, bụng xẹp lại và các chỉ số ure, creatinin máu trở về bình thường sau 2 ngày.

Gửi lời cảm ơn tới bác sỹ Cường, bác sỹ Ngọc cùng các bạn sinh viên vì những hình ảnh và video tuyệt đẹp này.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

U GIST

GIST là gì?

GIST viết tắt từ “Gastrointestinal stromal tumor” là thuật ngữ được Mazur và Clark sử dụng từ năm 1983 phân biệt hoàn toàn với sự lầm tưởng là u có nguồn gốc cơ trước đó, là loại u khá hiếm của ống tiêu hóa (OTH), những u này có nguồn gốc từ những tế bào đặc biệt ở thành OTH gọi là tế bào kẽ Cajal (interstitial cells of Cajal) hoặc những tế bào tiền thân của tế bào kẽ Cajal, là một phần của hệ thần kinh tự động của cơ thể có vai trò trong việc tạo ra nhu động ruột do đó nó được ví như một máy tạo nhịp của ruột “pacemaker cells of the gut”.

Không phải tất cả các GIST đều là ung thư mà có tỷ lệ lành tính. Khoảng hơn phân nửa GIST thuộc dạ dày. Phần còn lại ở ruột non và các phần khác của OTH.

GIST xảy ra ở đâu?

Có thể ở bất kỳ chỗ nào của OTH từ thực quản đến hậu môn. Nhiều nhất ở dạ dày: 55%, tá tràng-ruột non: 30%, thực quản: 5%, trực tràng: 5%, đại tràng: 2% và các vị trí khác rất hiếm.

GIST có hay gặp không?

Rất hiếm gặp, khoảng 95% u của OTH có nguồn gốc từ niêm mạc thuộc ngoại bì thì GIST có nguồn gốc từ trung bì.

Tính trên dân số theo các nghiên cứu thì tỷ lệ GIST 6.6-14.5 người/1 triệu dân.

Nguyên nhân của GIST?

Do đột biến gen. Hầu hết các ca GIST thấy có đột biến ở gen KIT, một số ít còn lại là gen PDGFR. Nguyên nhân nào gây đột biến thì vẫn chưa xác định.

Ai có thể bị GIST?

Như hầu hết các u khác, GIST chủ yếu gặp ở người có tuổi, thường trên 50 tuổi, tuổi trung bình là 60. GIST ở trẻ em rất hiếm.

Không có nhiều thông tin về tỷ lệ GIST khác nhau giữa các vùng địa lý hay tộc người.

Triệu chứng của GIST như thế nào?

Hầu hết không có triệu chứng với các u nhỏ. Phát hiện ngẫu nhiên khi thăm khám hoặc khi phẫu thuật bệnh khác.

Khi u lớn có thể gây các triệu chứng như:

  • Cảm giác khó chịu, đầy bụng.
  • Đau bụng.
  • Sờ thấy u ở bụng.
  • Nôn, ỉa lỏng.
  • Tắc ruột.
  • Xuất huyết tiêu hóa: Nôn máu, ỉa phân đen, da xanh nhợt, hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi.
  • Gày sút cân.

Chẩn đoán phân biệt với.

  • Dị dạng mạch.
  • U lành tính ở ruột non.
  • U đại tràng
  • U cơ trơn ruột non.
  • U mỡ.

Các xét nghiệm: Không có xét nghiệm máu nào đặc hiệu cho bệnh.

Chẩn đoán hình ảnh:

  • Chụp bụng không chuẩn bị. Không đặc hiệu nhưng có thể thấy các biến chứng của u: tắc ruột hoặc thủng.
  • Chụp đối quang: Có thể phát hiện được u.
  • Siêu âm ổ bụng.
  • CT scanner ổ bụng và chậu hông.
  • Chụp cộng hưởng từ.
  • PETscan
  • Nội soi.
  • Siêu âm nội soi.
  • Chụp mạch.

Điều trị

  • Hóa liệu hệ thống. Với sự phối hợp doxorubicin + dacarbazine với hoặc không ifosfamide.  Đáp ứng dưới 10%.
  • Hóa liệu trong phúc mạc đang được nghiên cứu.
  • Xạ trị: Ít hiệu quả và it được sự đồng thuận do ruột di động, áp dụng hạn chế ở những bệnh nhân có tổn thương u cố định với thành bụng.
  • Phẫu thuật là phương pháp duy nhất hiệu quả cho tới nay. Cắt bỏ hoàn toàn triệt để là cơ may cho bệnh nhân khỏi bệnh.

Ca lâm sàng:

Bệnh nhân nữ 59 tuổi, có tiền sử xuất huyết tiêu hóa, vào viện vì đau bụng vùng hạ vị và mệt mỏi, hoa mắt chóng mắt.

Khám lâm sàng: Có hội chứng thiếu máu; mass vùng hạ vị, đau.

Xét nghiệm công thức máu thể hiện sự thiếu máu trầm trọng

Siêu âm thấy tổn thương u vùng tiểu khung, không rõ nguồn gốc.

Chụp CLVT 64 dãy:

Khối u lớn vùng tiểu khung, chưa thấy xâm lấn các tạng xung quanh

Kết quả chụp 64 dãy

Bệnh nhân có kèm nhiều sỏi nhỏ túi mật do vậy đã được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt túi mật và u cùng một lần mổ.

Hình ảnh u trong mổ. Khối u được giải phóng và kéo lên ổ bụng

Mở nhỏ bụng và đưa u ra ngoài ổ bụng

Cắt đoạn ruột có u, khoảng 30 cm, cách góc hồi manh tràng khoảng 2m

Lập lại lưu thông ruột bằng GIA 80mm

Tiêu bản sau mổ: U lớn, đã hoại tử thủng thông vào lòng ruột, là nguyên nhân gây mất máu ở bệnh nhân.

Giải phẫu bệnh sau mổ:

GIST ác tính

Sau mổ diễn biến tốt, bệnh nhân có gas và rút sonde dạ dày cho ăn ngày thứ 3, rút dẫn lưu ổ bụng, bệnh nhân tập vận động đi lại ngày thứ 4.

Tham khảo

Gastric Gastrointestinal Stromal Tumors 

Gastrointestinal Stromal Tumors

Gastrointestinal Stromal Tumors Treatment

Your GIST treatment guide

To be continued

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)

Tắc ruột

Tắc ruột là thế nào?

Tắc ruột là tình trạng ngừng trệ một phần hoặc toàn bộ lưu thông  của thức ăn, dịch và hơi trong lòng ruột (tiểu tràng hoặc đại tràng) gây ra các triệu chứng: người bệnh đau bụng từng cơn, nôn, bí trung đại tiện.

Nguyên nhân nào gây nên tắc ruột?

Các nguyên nhân cơ học (Là nguyên nhân gây bít tắc lòng ruột)

  • U. Các u của thành ruột (u đại tràng, u ruột non), hoặc các u chèn ép từ ngoài
  • Sẹo mổ cũ tạo dính và dây chằng gây ra hẹp lòng ruột, xoắn.
  • Thoát vị : thoát vị thành bụng, thoát vị rốn, thoát vị đùi, thoát vị bẹn, thoát vị bịt, thoát vị nội -> nguy cơ nghẹt ruột.
  • Viêm mãn tính gây hẹp lòng ruột: Crohn, lao, xạ trị.

Ở ruột non thì sẹo mổ cũ là nguyên nhân chính gây nên tắc ruột. Những nguyên nhân khác là: thoát vị, bã thức ăn, búi giun, bệnh Crohn, lao, u, lồng ruột.

Ở đại tràng nguyên nhân gây tắc chủ yếu là do ung thư. Những nguyên nhân khác có thể gặp là táo bón, viêm mãn tính (viêm túi thừa, viêm loét đại tràng)

Các nguyên nhân cơ năng (ruột không có sự bít tắc nào, chỉ là sự liệt về nhu động do nhiều nguyên nhân khác) nguyên nhân này sẽ không được bàn đến ở bài viết này.

Triệu chứng hay biểu hiện của bệnh như thế nào?

  • Đau bụng từng cơn.
  • Nôn.
  • Không trung tiên.
  • Chướng bụng.

Khi nào khẩn cấp?  Khi đau dữ dội, liên tục. Vì với triệu chứng như vậy rất có thể ruột tắc do nguyên nhân xoắn, nghẹt mạch máu không cấp máu cho ruột, để muộn có thể dẫn đến hoại tử ruột.

Chẩn đoán tắc ruột như thể nào?

Bác sỹ sẽ hỏi về các triệu chứng như:

  • Đau và tính chất đau: đau bụng quặn từng cơn.
  • Nôn và tính chất nôn
  • Việc đi ngoài, tính chất phân vd phân nhày máu -> tắc ruột do ung thư.
  • Còn trung tiện?
  • Thức ăn vd người già, mất nhiều răng, ăn măng khô ->tắc ruột do bã thức ăn.

Bác sỹ sẽ khám tổng thể, trong đó đặc biệt quan tâm đến

  • Khám bụng:
  • Khám tình trạng răng miệng: có mắt, hỏng nhiều răng không?
  • Các lỗ thoát vị: thành bụng, bẹn.
  • Thăm trực tràng: có u không, tình trạng trực tràng rỗng không có phân.

Bác sỹ có thể sẽ:

  • Chỉ định chụp Xquang bụng: trên phim Xquang thấy các quai ruột giãn, có mức nước-hơi.
  • Chỉ định siêu âm bụng: thấy các quai ruột giãn, có nhu động đảo chiều, có thể thấy nguyên nhân như búi giun, lồng ruột…
  • Chỉ định chụp CTscanner ổ bụng: thấy các quai ruột giãn, có thể thấy nguyên nhân như  u, lồng ruột…

Điều trị tắc ruột như thể nào?

Tất cả các bệnh nhân tắc ruột đều phải được nhập viện để theo dõi và điều trị bao gồm:

  • Bệnh nhân phải nhịn ăn uống.
  • Phải đặt ống thông dạ dày.
  • Nuôi dưỡng và bù nước, điện giải qua đường tĩnh mạch.
  • Phẫu thuật khi những điều trị trên không hiệu quả.

Một số hình ảnh phẫu thuật tắc ruột

Bệnh nhi nữ 10 tuổi. Tiền sử mổ viêm ruột thừa và 2 lần mổ tắc ruột sau đó. Vào viện với những triệu chứng của tắc ruột: Đau bụng cơn, nôn, bí trung đại tiện.  Điều trị bằng đặt ống thông dạ dày, nuôi dưỡng và bù nước, điện giải qua đường tĩnh mạch không kết quả.

Sẹo mổ cũ của viêm ruột thừa và 2 lần mổ tắc ruột sau đó

Trong mổ: Một quai ruột nghẹt và giãn, chưa tím

Nguyên nhân gây nghẹt là một dây chằng. Sẽ được cắt bỏ

Bệnh nhân thứ 2, nữ 82 tuổi. Vào viện vì đau bụng cơn, bí trung đại tiện 4 ngày kèm theo chướng bụng tăng dần

Khám lâm sàng thấy bụng chướng to

Chụp Xquang bụng thấy hình ảnh mức nước-hơi

Hình mức nước hơi này thấy rõ trên phim CTscanner ổ bụng

Trong mổ. Đại tràng trên chỗ tắc giãn to

Khối u đại tràng gây chít hẹp lòng đại tràng

Bệnh nhân thứ 3, nữ 72 tuổi. Vào viện vì đau bụng cơn, bí trung đại tiện 5 ngày kèm theo chướng bụng tăng dần. Bệnh nhân cũng đã được phát hiện có u đại tràng 1 tháng trước nhưng không điều trị.

Bụng rất chướng

Xquang có nhiều mức nước-hơi

Trong mổ: ruột giãn to chứa hơi và dịch

Nguyên nhân tắc là U trực tràng phần cao nhưng đã xâm lấn tử cung và sàn chậu

Nhiều tổ chức U đã di căn vào thành ruột, mạc nối lơn.

Bệnh nhân này phải đưa ruột trên chỗ tắc làm hậu môn nhân tạo

Bệnh nhân thứ 4: Một ca bệnh khó. Nam 40 tuổi. Không có tiền sử mổ cũ, mất 4 răng hàm, ăn mít. Vào viện vì đau bụng cơn quanh rối, chướng bụng, nôn và bí trung đại tiện ngày thứ 2. Khám bụng chướng, đau ít, không có điểm đau. Xquang có nhiều mức nước-hơi ở ruột non. Từ những giữ liệu trên, bệnh nhân được hướng tới chẩn đoán tắc ruột do bã thức ăn và chỉ định đặt sonde dạ dày, nhịn ăn uống, nuôi đường tĩnh mạch. Tuy nhiên đến ngày thứ 3 các triệu chứng tắc ruột tăng lên, bệnh nhân sốt 38 độ C, xét nghiệm BC trong máu tăng cao nên được chỉ định mổ cấp cứu.

Tổn thương trong mổ: Bụng có dịch hồng, ruột non rất chướng. Nguyên nhân tắc: Bệnh nhân có túi thừa Meckel dài khoảng 10cm, đỉnh túi thừa có một dây chằng đến bám vào mạc treo ruột non gần đó tạo thành một vòng tròn qua đó 80cm hỗng tràng ngay trên Meckel chui qua bị nghẹt tắc nhưng không hoại tử. Meckel, một thành phần cấu thành nên lỗ thoát vị bị xoắn 2 vòng hoại tử đen và thủng (Hình).

1. Túi thừa Meckel 2. Vết hằn do dây chằng 3. Vị trí dây chằng xuất phát từ đầu túi thừa.

1. Túi thừa Meckel
2. Vết hằn do dây chằng
3. Vị trí dây chằng xuất phát từ đầu túi thừa.

Bệnh nhân được cắt đoạn khoảng 5cm ruột non có túi thừa và nối ruột bên-bên,

To be continued

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)

Thoát vị đùi ở bệnh nhân nam

Bệnh nhân nam, lớn tuổi, gày, với bệnh cảnh tắc ruột

Khối phồng vùng bẹn trái, dưới cung đùi

Mổ, các quai ruột trên vị trí thoát vị giãn. Có quai thoát vị dính chắc vào lỗ và túi thoát vị

Quai ruột thoát vị được kéo ra khỏi bao, bao thoát vị được lộn vào trong ổ bụng

Bao thoát vị được cắt bỏ, khâu cung đùi-dải chậu-lược

Một bệnh nhân khác với bệnh cảnh tương tự, nhưng khối thoát vị đẩy lên được và mổ có chuẩn bị, không phải mở bụng

Hình ảnh tắc ruột trên phim CTscanner

Hình ảnh ống tiêu hoá trong bao thoát vị nằm cạnh bó mạch đùi

Thoát vị thắt lưng

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)

Bệnh nhân nữ 31 tuổi, có 1 con và đang có thai tuần thứ 13, đau bụng vùng thượng vị 3 ngày, đồng thời tự sờ thấy khối u vùng trên rốn.

Nhìn ngoài, khối u đẩy lồi thành bụng

Siêu âm, khối u dạng nang dịch nhiều vách, theo dõi lâm sàng bệnh nhân đau tăng, siêu âm lượng dịch tự do trong bụng xuất hiện. Bệnh nhân được đưa mổ cấp cứu.

Khối u nhìn thấy khi mở bụng

Dịch tự do trong ổ bụng trong, ánh vàng, tổ chức phúc mạc tạng vùng rốn gan, trước tuỵ ngấm dịch.

Khối u vùng mạc nối bé-bờ cong nhỏ dạ dày dạng nang dịch có vách, thành rất mỏng dính vào lớp cơ dạ dày. Nhìn từ mặt trước

Nhìn từ mặt sau

Sau khi phẫu tích thấy khối u độc lập với tuỵ và các tạng khác. Mũi tên chỉ=bờ dưới tuỵ

Khối u được phẫu tích và lấy bỏ trọn vẹn

Thành dạ dày bị cắt bỏ một phần thanh cơ dính vào khối nang dịch đã được khâu lại

to be continued

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)

Mục lục

Hướng dẫn khám bệnh

Phẫu thật nội soi

Thoát vị

Ung bướu

Bệnh trĩ

Y học

Tắc ruột

My photos, sự đam mê bất tận

Thoát vị bẹn là gì?

Thoát vị bẹn xảy ra khi có sự ‘di chuyển’ nội dung ổ bụng (ruột, mạc nối) vào trong ống bẹn do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) hay có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải).

Biểu hiện của thoát vị bẹn như thế nào?

Xuất hiện khối phồng vùng bẹn, thường bị bên phải nhiều hơn bên trái, khối này mềm, thường không đau, rõ hơn khi đứng, to lên khi rặn, ho, hắt hơi, khóc…(khi có sự tăng áp lực trong ổ bụng).

Nguyên nhân của thoát vị bẹn là gì?

  • Do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) gặp ở trẻ em hay.
  • Có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải) gặp ở người trưởng thành.

Ai có nguy cơ bị thoát vị bẹn?

  • Nam bị nhiều hơn nữ. Trẻ em do tồn tại ống phúc tinh mạc (cùng loạt bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc còn có: nang thừng tinh, dịch màng tinh hoàn).

    Sơ đồ: ống phúc tinh mạc (B), tinh hoàn (C), nang thừng tinh (A-cyst of cord), dịch màng tinh hoàn (D-hydrocele) và thoát vị bẹn (E-Inguinal hernia).

  • Những người có áp lực ổ bụng cao, thành bụng yếu:
    • Bí tiểu do bệnh phì đại tuyến tiền liệt (u xơ tiền liệt tuyến).
    • Táo bón thường xuyên.
    • Ho mãn tính.
    • Béo phì.

Khi nào thoát vị bẹn cần điều trị?

Khi thoát vị tự nó không tự khỏi được, khối thoát vị ngày càng to ra. Trong thực tế ít khi thoát vị bẹn tự khỏi được vì hàng ngày ruột, mạc nối chui vào lỗ thoát vị và làm thoát vị ngày càng lớn. Số ít khỏi được khi xảy ra ở trẻ chưa biết đi, do trẻ không ở tư thế đứng nên ruột và mạc nối không chui vào lỗ thoát vị để làm lỗ thoát vị ngày một to ra. Do vậy ở trẻ em nếu không có biến chứng nghẹt thì có thể theo dõi và chờ đợi tới khi trẻ biết đi mà thoát vị bẹn vẫn không tự khỏi mới cần phải phẫu thuật.

Khi nào thoát vị bẹn phải cấp cứu.

Là khi ruột, mạc nối mắc kẹt và nghẹt trong bao thoát vị. Do bị nghẹt, phần ruột, mạc nối nằm trong bao thoát vị bị thiếu máu nuôi dưỡng, để lâu có thể bị hoại tử đoạn ruột nghẹt. Biểu hiện bệnh nhân rất đau đớn. Khối phồng rất đau và không hết khi nằm nghỉ.

Phẫu thuật điều trị như thế nào?

Có nhiều phương pháp điều trị. Mục đích của phẫu thuật là làm mất đi (khâu 2 bờ của lỗ thoát vị, làm mất điểm yếu trên thành bụng nhưng để lại sức căng của đường khâu cân cơ-tension repair) hoặc làm vững mạnh (tạo vạt che hoặc dùng “mảnh vá” (surgical mesh- một lưới sợi tổng hợp) che phủ điểm yếu của thành bụng, làm vững mạnh điểm yếu và không làm căng cân cơ thành bụng-tension free repair) điểm yếu của thành bụng.

    • Mổ mở:
      • Tension repair:
        • Phẫu thuật Bassini.
        • Phẫu thuật Shouldice
        • Phẫu thuật McVay
      • Tension-free repair
        • Đặt mesh tổng hợp (giống như tấm lưới sợi tổng hợp) làm vững mạnh hơn vị trí thành bụng yếu.
    • Mổ nội soi: Có thể đi trong hoặc ngoài phúc mạc qua đó đặt mesh tổng hợp che phủ điểm yếu của thành bụng ngoài phúc mạc.
    • Trẻ em: Thoát vị bẹn là do tồn tại ống phúc tinh mạc nên khi mổ chỉ cần rạch da 2-3 cm trên thành bụng, phẫu tích và thắt ống phúc tinh mạc ở lỗ bẹn sâu là đủ.

Ưu nhược điểm của phương pháp nội soi so với mổ mở:

  • Ưu điểm:
    • Hồi phục nhanh.
    • Ít đau sau mổ.
    • Ít biến chứng sau mổ: Nhiễm trùng, chảy máu.
    • Ít nguy cơ đau mãn tính sau mổ.
    • Không thêm sẹo khi phẫu thuật cả 2 bên.
  • Nhược điểm:
    • Thời gian phẫu thuật có thể lâu hơn(?). Trên thực tế, hiện tại phẫu thuật nội soi không lâu hơn phẫu thuật mở. Thậm chí còn nhanh hơn nhiều khi phẫu thuật cả hai bên vì không phải thêm đường rạch.

Phục hồi sau phẫu thuật.

Hầu hết bệnh nhân có thể trở lại với hoạt động bình thường sau 2-4 tuần.

Trong tuần đầu sau mổ cần chú ý với những hoạt động làm tăng áp lực ổ bụng, căng vết mổ như:

  • Đang nằm ngồi dậy, đang ngồi đứng dậy.
  • Ho.
  • Hắt hơi.
  • Khóc.
  • Bê mang vật nặng.
  • Nôn.

Một số hình ảnh phẫu thuật  điều trị thoát vị bẹn được chúng tôi thực hiện.

Bệnh nhân nam người lớn. Chẩn đoán trước mổ là thoát vị bẹn qua thăm khám lâm sàng và siêu âm. Phẫu thuật nội soi điều trị.

Mổ thoát vị bẹn nội soi

Mạc nối lớn chui vào lỗ thoát vị

Mạc nối lớn đã được kéo ra

Mở và tạo khoang trước phúc mạc để đặt surgical mesh

Mở và tạo khoang trước phúc mạc để đặt surgical mesh

Đặt mesh tổng hợp che phủ lỗ thoát vị

Phúc mạc thành bụng lại được khâu phục hồi lại che phủ tấm mesh tổng hợp và kết thúc quá trình phẫu thuật

“Mảnh vá” nhân tạo-Surgical mesh sử dụng trong phẫu thuật bẹn trước khi được sử dụng

Hình ảnh thành bụng sau khi mổ xong

 Bệnh nhân sẽ hầu như không thấy sẹo sau 4 tuần, và cũng chỉ với các đường rạch da như thế này có thể thực hiện phẫu thuật thoát vị 2 bên cùng lúc

Bệnh nhân khác, phẫu thuật mổ hở truyền thống

Thoát vị bẹn bên phải, khi nằm hầu như không thấy

Đường rạch da

Mở gân cơ chéo ngoài

Che phủ, biệt lập vùng mổ với da xung quanh

Bộc lộ cung đùi

Mở bao thoát vị, trong bao thoát vị là mạc nối lớn

Phẫu tích tách ống dẫn tinh và mạch tinh khỏi bao thoát vị

Sau khi cắt bỏ bao thoát vị, khâu kín cổ bao, surgical mesh được chuẩn bị sẵn sàng

Đường khâu da sau khi hoàn thành cuộc mổ

Một ca thoát vị bẹn nghẹt mổ mở

Bệnh nhân nam 91 tuổi với khối thoát vị lớn, đau kèm các triệu chứng tắc ruột

Phẫu thuật cấp cứu, mở

Trong bao thoát vị là manh tràng và khoảng 60cm hồi tràng

Phẫu thuật nang thừng tinh ở trẻ em 

Nang thừng tinh nhìn ngoài

Nang thừng tinh để nhìn ngoài rõ hơn

Bóc tách nang khỏi ống dẫn tinh, bó mạch tinh thắt ống phúc tinh mạc và cắt nang qua một đường rạch da 1cm trực tiếp trên nang

Kết thúc mổ với 1 mũi khâu da

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)

PS. Vừa qua có nhiều bạn nhắn tin hỏi về giá phẫu thuật cho thoát vị bẹn (TVB). Để tiện cho các bạn tham khảo, tôi xin được bàn về giá ở đây. Chi phí cho một ca phẫu thuật TVB rất thay đổi. Từ ít nhất trong khoảng 4-5 triệu đồng đến nhiều 20-30 triệu đồng tùy thuộc:

1. loại phẫu thuật ( nội soi với mổ mở truyền thống chênh 1-2 triệu);

2. Vật liệu làm “mảnh vá” (surgical mesh), kích cỡ (thường 500-1tr với có tráng film collagen, 3D…trên 3-4tr);

3. loại dịch vụ bệnh viện (tự túc ăn, người nhà phải ở lại chăm sóc với có xuất ăn, người nhà không phải ở lại chăm sóc),

4. tiền mổ (bv công 800 nghìn-1.6triệu-tự túc ăn, sinh hoạt với bv tư trên dưới 10-15triệu-được chăm sóc, ăn uống…);

5. loại thuốc gây mê, kháng sinh sử dụng, cách sử dụng thuốc của từng bác sỹ

Túi mật là gì? Ở đâu?

Túi mật là một túi nhỏ hình quả lê nằm mắt dưới gan bên phải để lưu trữ và cô đặc mật. Mật do gan bài tiết được lưu trữ trong túi mật rồi được bài xuất xuống ruột để tiêu hoá chất béo.

Sỏi túi mật là gì?

Sỏi túi mật thể rắn hình thành bởi cholesterol, muối mật và canxi,  kích thước sỏi từ vài mm đến vài cm. Số lượng có thể từ 1 đến hàng trăm viên.

Hình chụp macro một viên sỏi túi mật

Những viên sỏi được lấy ra từ một túi mật

Trường hợp khác, túi mật với đám sỏi cholesterol.

sỏi và polyp túi mật

Nguyên nhân gây sỏi túi mật là gì?

Thường do chuyển hoá, khi trong dịch mật có nồng độ cholesterol dư thừa quá cao tạo thành các tinh thể mà từ đó sỏi túi mật được hình thành.

Những ai có nguy cơ bị sỏi túi mật?

Có thể găp ở bất kể ai, người trẻ tuổi ít bị hơn. Những người sau đây thuộc nhóm có nguy cơ cao:

  • Người béo. Vì sỏi liên quan đến vấn đề thừa cholesterol trong máu.
  • Phụ nữ dùng thuốc tránh thai có chứa estrogen.
  • Người có bện viêm đường ruột như bệnh Crohn, viêm loét đại tràng.

Các triệu chứng của sỏi túi mật?

  • Hầu hết người bệnh không có triệu chứng gì, sỏi túi mật được phát hiện tình cờ khi đi làm siêu âm bệnh khác.
  • Nếu có triệu chứng thì:
    • Đau bụng âm ỉ dưới sườn phải, xuyên ra lưng, lên vai phải. Cơn đau quặn dữ dội ít xảy ra, thường lên quan đến việc sỏi gây tắc ống cổ túi mật, viêm túi mật cấp đòi hỏi người bệnh phải nằm viện dùng thuốc, theo dõi và có thể phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu nếu quá trình viêm tiến triển dẫn đến hoại tử túi mật.
    • Sốt, vàng da thường là sỏi đã gây biến chứng.

Chẩn đoán sỏi túi mật như thế nào?

  • Siêu âm, chụp cắt lớp là phương tiện hữu hiệu cho chẩn đoán sỏi túi mật.

    Hình ảnh siêu âm của sỏi túi mật

  • Các xét nghiệm máu giúp xác định chức năng gan, tình trạng cholesterol máu.

Điều trị sỏi túi mật như thế nào? Có thể tóm lược mấy ý sau:

  • Sỏi túi mật to trên 1cm không có triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Vì trong thực tế sỏi thường được phát hiện ngẫu nhiên và người mang sỏi đó đã chung sống với sỏi nhiều năm không triệu chứng. Và biến chứng của loại sỏi này thường nhẹ: viêm túi mật. Trường hợp đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có sỏi túi mật thì theo tôi nên can thiệp phẫu thuật điều trị chủ động trước khi mang thai để đề phòng túi mật viêm đúng vào thời kỳ mang thai sẽ làm cho việc điều trị trở nên rất phức tạp,  đặc biệt nếu phải can thiệp phẫu thuật cắt túi mật ở giai đoạn này.
  • Điều trị thuốc “tan sỏi” như nhiều hãng thuốc quảng cáo có tác dụng rất hạn chế, chủ yếu tác dụng trong phòng ngừa tạo sỏi ở người nguy cơ cao: cắt dạ dày giảm béo…đại diện là ursodiol với các tên thương mại Actigall, Urso Forte, Urso 250.
  • Sỏi nhỏ 2-3mm nguy hiểm hơn sỏi lớn 1-2cm vì có thể gây biến chứng rất nặng thậm chí tử vong là viêm tuỵ cấp hoại tử. Do vậy theo quan điểm cá nhân của tôi, khi bệnh nhân phát hiện có sỏi túi mật nhỏ 2-3mm nên chủ động khám bệnh viện ngoại khoa yêu cầu phẫu thuật dù sỏi chưa gây triệu chứng gì.
  • Sỏi gây triệu chứng đau, sốt từng đợt nên điều trị bằng phẫu thuật.
  • Tán sỏi: Chưa áp dụng để điều trị sỏi túi mật. Không hiệu quả và gây biến chứng.
  • Điều trị chuẩn vàng hiện nay cho sỏi túi mật là phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Có thể phẫu thuật nội soi thông thường với 3-4 vết rạch da nhỏ 0.5-1cm trên thành bụng để đưa dụng cụ hoặc phẫu thuật SILS một đường rạch qua rốn để không thấy sẹo sau khi mổ.
  • Thời gian phẫu thuật trung bình cho 1 ca sỏi túi mật 10-30phút, thời gian nằm viện sau mổ 2-3 ngày.
  • Trong điều trị phẫu thuật, phẫu thuật khi túi mật không viêm dễ hơn nhiều khi túi mật đã viêm nhiều lần.

Một số hình ảnh phẫu thuật một bệnh nhân viêm tuỵ hoại tử do biến chứng của sỏi túi mật nhỏ.

Bệnh nhân nữ 54 tuổi, không có tiền sử đau cũng như phát hiện sỏi túi mật từ trước. Vào viện vì đau bụng dữ dội trên rốn và dưới sườn phải, khám lâm sàng gợi ý bệnh cảnh viêm tuỵ cấp, siêu âm bụng có sỏi nhỏ túi mật, xét nghiệm máu amylase máu trên 3000 đơn vị. Bệnh nhân được vào viện, sonde dạ dày, nhịn ăn hoàn toàn, cho thuốc và theo dõi. Tình trạng bệnh nặng lên biểu hiện viêm tuỵ hoại tử. Phải thực hiện phẫu thuật mở bụng cấp cứu.

Khi mở bụng, mạc nối nhiều “vết nến” biểu hiện tình trạng viêm tuỵ

Trong ổ bụng nhiều dịch đen bẩn của tuỵ hoại tử

Tổ chức viêm hoại tử sau phúc mạc dọc hai rãnh đại tràng

Tuỵ hoại tử đen

Bệnh nhân được cắt túi mật, dẫn lưu ống mật chủ, mở bao tuỵ lấy tổ chức hoại tử, hạ và mở rộng hai rãnh đại tràng, làm sạch bụng và dẫn lưu rộng rãi ổ bụng.

Sau mổ diễn biến nặng, phải thở máy nhiều ngày, ăn qua mở thông ruột, ra viện sau hơn 40 ngày điều trị.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!)


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.