Tăng tiết mồ hôi (hyperhidrosis) là tình trạng tiết mồ hôi vượt quá mức cần thiết cho sự điều hòa thân nhiệt của cơ thể.

Không có con số chính thức cho Việt nam, nhưng Mỹ khoảng 8 triệu người mắc chứng bệnh này. Nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 46.5% vs 28.6%.

Bệnh bắt đầu từ khi còn là trẻ em hoặc thanh thiếu niên. Bất kỳ vị trí nào trên cơ thể có thể bị ảnh hưởng nhưng các vùng ảnh hưởng phổ biến nhất là lòng bàn tay, lòng bàn chân và nách; thứ đến là mặt, da đầu, bẹn, dưới và vùng liên vú.

Tăng tiết mồ hôi có thể tiên phát hoặc thứ phát sau các bệnh khác, rối loạn chuyển hóa, sốt, hoặc sử dụng thuốc. Tăng tiết mồ hôi tồn tại ở 3 dạng: do xúc động, tăng tiết mồ hôi cục bộ (trong đó nó ảnh hưởng đến lòng bàn tay, lòng bàn chân và nách, và tăng tiết mồ hôi toàn thân.

Tăng tiết mồ hôi làm ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất, công việc cũng như những hoạt động thường ngày.

Bài viết này đề cập đến chứng tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát.

Các tiêu chuẩn chuẩn đoán tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát gồm: Cục bộ từng khu vực, có thể nhìn thấy, thời gian ít nhất là 6 tháng, không có nguyên nhân rõ ràng và có ít nhất hai trong số những đặc điểm sau đây:

  • Hai bên và tương đối đối xứng.
  • Làm ảnh hưởng hoạt động hàng ngày.
  • Tần số ít nhất một lần mỗi tuần.
  • Tuổi khởi phát dưới 25 năm.
  • Có tiền sử gia đình.
  • Ngừng ra mồ hôi trong khi ngủ.

TRIỆU CHỨNG

  • Tuổi bắt đầu rất trẻ kéo dài suốt đời.
  • Vùng ảnh hưởng phổ biến nhất là lòng bàn tay, lòng bàn chân và nách. Thứ đến là da đầu, mặt và các vùng khác.
  • Tăng lên khi nóng, cảm xúc.
  • Người ra mồ hôi nách thường than phiền về sự ẩm ướt ở hai hõm nách và áo bị ố do mồ hôi.
  • Người ra mồ hôi tay sẽ ngại khi phải bắt tay, gặp khó khăn khi viết, những công việc đòi hỏi sự khô ráo ở hai bàn tay.
  • Hay bị các bệnh da khác: Viêm da, nấm, eczema…

DỊCH TỄ VÀ BỆNH NGUYÊN

  • Tăng tiết mồ hôi chiếm 1-3% dân số.
  • Một NC cho thấy trong số BN tăng tiết mồ hôi tay được điều trị đốt hạch giao cảm ngực thì 49/58 BN có yếu tố gia đình. Trong khi đó ở nhóm đối chứng thì không. Có yếu tố di truyền trong bệnh lý này.

BỆNH SINH

  • Tiết mồ hôi liên quan đến việc điều nhiệt, giữ ẩm da và cân bằng nước-điện giải.
  • Cấu trúc của tuyến mồ hôi gồm có hai phần.
    • Phần cuộn thành 1 khối hình cầu, bên trong có mao mạch xen lẫn những nhánh dây thần kinh thực vật, nằm sâu ở lớp bì của da.
    • Phần ống tiết gồm 2 đoạn: đoạn trung gian thẳng và đoạn xoắn ốc xuyên qua lớp sừng mở ra mặt da bằng lỗ tiết để đào thải mồ hôi ra ngoài.
    • Các tuyến mồ hôi được chi phối bởi sợi cholinergic của hệ thần kinh giao cảm. Có chức năng điều hòa thân nhiệt – mà tốc độ bài tiết chịu ảnh hưởng của các kích thích xúc cảm và vị giác. Toàn bộ tuyến mồ hôi của cơ thể mỗi ngày có thể tiết ra 500-700 ml dịch, tùy thuộc vào thời tiết, trạng thái hoạt động hay nghỉ ngơi…
  • Có đến 3-5 triệu tuyến mồ hôi chia thành 3 loại ở người là: eccrine, apocrine, và tuyến apoeccrine.
    • Tuyến eccrine (Ngoại tiết)
      • Khoảng 3 triệu là tuyến nằm ở hầu khắp cơ thể, nhưng nhiều nhất ở bàn tay, bàn chân, da đầu. Ở thân và chi thể ít hơn rất nhiều.
      • Chất tiết vô khuẩn, hòa tan các điện giải bicarbonate, K+, NaCl và nhưng chất khác như: Glucose, pyruvate, lactate, cytokines…
      • Chức năng chủ yếu là điều nhiệt dựa vào sự bay hơi của nước.
      • Tiết mồ hôi ở mặt, ngực, lưng chủ yếu do kích thích của nhiệt độ, trong khi đó ở lòng bàn tay, bàn chân lại do kích thích của trạng thái tâm lý.
      • Tiết mồ hôi do nhiệt độ có thể suốt ngày đêm, nhưng tiết mồ hôi do yếu tố tâm lý(lòng bàn tay, bàn chân sẽ ngừng khi ngủ).
      • Tuyến này được chi phối bởi hệ thần kinh giao cảm (TKGC) nhưng sử dụng acetylcholine là trung gian dẫn truyền. Điều khiển tiết mồ hôi do kích thích nhiệt và cảm xúc nằm ở những vùng khác nhau trên não: Nhiệt là vùng dưới đồi trong khi cảm xúc là vỏ não. Các tín hiệu giao cảm đến tuyến nội tiết qua các neuron cholinergic. Ở BN tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát các tuyến mồ hôi bình thường cả về phương diện tế bào học và chức năng. Bệnh sinh tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát là sự đáp ứng phóng đại của thần kinh trung ương với kích thích cảm xúc bình thường.
    • Tuyến apocrine (tuyến dầu)
      • Nằm ở vùng gianh giới giữa da và mỡ dưới da. Chất tiết đổ vào phần phễu của nang lông.
      • Ở người tuyến phân bổ chủ yếu ở nách, quầng-núm vú, ống tai, mi mắt, cánh mũi, tầng sinh môn, một vài vùng của cơ quan sinh dục ngoài. Các tuyến apocrine đặc biệt gồm: tuyến ciliary glands ở mí mắt; ceruminous glands ở ống tai và tuyến vú.
      • Bắt đầu tăng tiết từ tuổi dậy thì, hoạt động mạnh trong độ tuổi sinh đẻ, giảm tiết khi về già.
      • Ở động vật có vú, nó có hai chức năng: Thứ nhất, tạo ra mùi để xua đuổi các loài khác; Thứ hai, tiết ra các mùi đặc biệt để hấp dẫn bạn tình.
      • Các vi khuẩn hoạt động trên bề mặt da phân huỷ các acid béo tạo ra mùi.
      • Các tuyến mồ hôi loại này không có liên hệ đến tăng tiết mồ hôi khu trú và chức năng của chúng được điều hòa bởi các tiến trình nội tiết.
    • Apo-eccrine tuyến mồ hôi hỗn hợp gọi là tuyến đầu-ngoại tiết (apo-eccrine glands), chủ yếu được tìm thấy ở nách và vùng quanh hậu môn. Vai trò của chúng trong sinh lý bệnh của tăng tiết mồ hôi khu trú hiện chưa rõ, dù vậy trên một số người, chúng chiếm đến 45% số tuyến mồ hôi được tìm thấy trong vùng nách.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT.

  1. Tăng tiết mồ hôi thứ phát
    • Tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát: thường tăng tiết ở mặt, da đầu, lòng bàn tay bàn chân và nách.
    • Tăng tiết mồ hôi thứ phát, nguyên nhân hay gặp nhất là nóng. Cũng có thể liên quan đến các bệnh hệ thống và thuốc.
    • Không giống tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát, tăng tiết mồ hôi thứ phát thường ở người lớn, xảy ra cả lúc thức và ngủ.
    • Tăng tiết mồ hôi thứ phát toàn thân đòi hỏi phải đánh giá cẩn trọng những nguyên nhân toàn thân gồm: Dấu hiệu và triệu chứng bệnh nhiễm trùng: Lao, HIV, viêm nội tâm mạc; bệnh ác tính-lymphoma; bệnh nội tiết: HC carcinoid, u tủy thượng thận, cường giáp; các thuốc đang dùng; tiền mãn kinh.
  2. Các nguyên nhân có thể khác:
    • Chấn thương tủy sống.
    • Ra mồ hôi liên quan đến nóng, ăn cay…thường ở quanh môi, mũi, trán.

ĐIỀU TRỊ

Lựa chọn đúng phương pháp điều trị bắt đầu với việc đánh giá:

  • Vị trí tăng tiết mồ hôi: Nách, bàn tay, bàn chân, da đầu.
  • Những yếu tố khác:
    • Kết quả mong muốn của người bệnh.
    • Độ an toàn.
    • Mức độ trầm trọng của bệnh.
    • Giá thành.
    • Khả năng cung cấp dịch vụ.
  1. Tăng tiết mồ hôi nách: Các phương pháp lựa chọn là: chống mồ hôi tại chỗ (muối nhôm), tiêm botulium toxin, nhiệt phân vi sóng (microwave thermolysis), uống thuốc và phẫu thuật.
  • Lựa chọn số 1-first line. Chống mồ hôi tại chỗ (muối nhôm aluminum chloride hexahydrate). Đơn giản, sẵn có, rẻ tiền và an toàn. Cơ chế làm tắc ống bài xuất. Thích hợp cho bệnh nhẹ.
    • Nên dùng vào đêm, rửa sạch vào buổi sáng.
    • Tác dụng đạt được tốt nhất sau 1 tuần.
    • Khoảng cách lặp điều chỉnh thích hợp sau khi đạt kết quả tốt nhất.
    • Để duy trì kết quả, thường là 1 lần/tuần.
    • Với trường hợp ra nhiều mồ hôi, cách này kém hiệu quả, có thể có kích ứng da.
  • Lựa chọn số 2-second line. Tiêm botulinum toxin định kỳ vào da bị ảnh hưởng khi không đáp ứng với lựa chọn 1. Là một phương pháp an toàn và hiệu quả để cải thiện tình trạng tăng tiết mồ hôi nách. Tuy nhiên, điều trị có thể là đau đớn và tốn kém. Botulinum toxin ngăn chặn sự giải phóng acetylcholine tại các tiền synap do vậy có thể tạm thời làm giảm sản xuất mồ hôi.
    • Mặc dù có nhiều loại nhưng onabotulinumtoxinA hoặc abobotulinumtoxinA hay được sử dụng
    • Liều 1 đơn vị onabotulinumtoxinA tương đương 3 đơn vị abobotulinumtoxinA
    • Nghiên cứu trên 320BN. BTX-A 50 UI/nách sau 4 tuần tác dụng 94%, sau 16 tuần 82% lần lượt so với Placebo là 36 và 21%.
    • Nghiên cứu trên 145BN không đáp ứng với lựa chọn 1. BTX-A 200 UI/nách. Nách bên kia placebo sau 2 tuần so sánh việc tiết mồ hôi giữa 2 bên là 24 vs 144 mg/phút. Bên placebo sau đó tiêm BTX-A 100 UI và đánh giá tác dụng sau 2 tuần: kết quả sự giảm tiết mồ hôi là 144 xuống 32 mg/phút.
    • Thời gian có tác dụng của liệu pháp là 2-4 ngày. Kéo dài 3-9 tháng hoặc lâu hơn.
    • Tối ưu việc điều trị với BTX-A phụ thuộc vào việc xác định chính xác các vị trí tiết mồ hôi. Phương pháp đơn giản để xác định các khu vực được thực hiện theo các bước sau:
      • Lau khô nách bằng giấy thấm.
      • Bôi dung dịch iodine 3% đến 5% vào nách và vùng da lân cận
      • Xoa tinh bột khô trên diện tích ứng dụng iốt
      • Các khu vực có màu tím sẫm xuất hiện là vùng tiết xuất mồ hôi.
      • Đánh dấu các khu vực này bằng bút đánh dấu.
    • Dùng kim 30 gauge để tiêm botulinum vào lớp hạ bì hoặc lớp mỡ.
    • Trung bình 10 đến 20 mũi tiêm cách nhau khoảng 1 đến 2 cm mỗi bên nách.
    • Đối với onabotulinumtoxinA, mỗi nách là từ 50 đến 100 U; abobotulinumtoxinA từ 100 đến 300 đơn vị mỗi bên.
    • Đau là một vấn đề trong loại điều trị này. Thuốc giảm đau tại chỗ, xịt lạnh, túi đá…có thể áp dụng.

(Còn nữa)

Tham khảo

  1. http://www.sweathelp.org/treatments-hcp/clinical-guidelines/primary-focal-hyperhidrosis/primary-focal-axillary.html
  2. https://www.uptodate.com/contents/primary-focal-hyperhidrosis?source=search_result&search=hyperhidrosis&selectedTitle=1%7E77
  3. http://emedicine.medscape.com/article/1073359-overview#a4

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Advertisements