Mục lục

Những điều cần biết

Hướng dẫn khám bệnh

Phẫu thật nội soi

Thoát vị

Bệnh ở hậu môn-trực tràng

Y học

Ung bướu

Tắc ruột

My photos1

My photos2

Advertisements

Áp xe và rò hậu môn

Rò hậu môn là gì?

Rò hậu môn (RHM), tiếng Anh (anal fistula) là một đường thông bất thường mạn tính giữa bề mặt biểu mô của ống hậu môn và vùng da quanh hậu môn. Rò hậu môn thường xảy ra ở những người có tiền sử áp xe hậu môn (anal abscess).

RHM hình thành như thế nào?

RHM có nguồn gốc từ các áp xe tuyến hậu môn (anal glands). Tuyến hậu môn nằm giữa cơ vòng hậu môn trong và ngoài và tiết dịch vào ống hậu môn. Nếu ống tuyến này bị tắc nghẽn, áp xe có thể hình thành và cuối cùng có thể lan đến bề mặt da. Đường hầm được hình thành bởi quá trình này là đường rò. Khi áp xe vỡ hay được rạch tháo mủ sẽ có sự thông thương từ lỗ trong (ống tuyến) với lỗ ngoài (nơi áp xe vỡ) qua một đường hầm (đường rò).

78566_3_En_1_Fig1_HTML

RHM thường không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhưng có thể rất đau đớn (trong giai đoạn đang là áp xe) và khó chịu do sự chảy dịch mủ và phân qua lỗ rò. Ngoài ra, áp xe tái phát nhiều lần, gây đau và có thể khởi đầu cho một nhiễm trùng toàn thân.

Theo phân loại Park có 4 loại rò: Gian cơ thắt, xuyên cơ thắt, trên cơ thắt và ngoài cơ thắt.

Hemorrhoid-laser-161118195303

Nguyên nhân thường gặp của RHM: 

Thường do áp xe, viêm các tuyến hậu môn. Tuyến hậu môn, nằm giữa cơ vòng hậu môn trong và ngoài và chảy vào ống hậu môn. Nếu ống tuyến này vì lý do nào đấy bị tắc nghẽn, áp xe có thể hình thành và cuối cùng có thể lan đến bề mặt da. Đường hầm được hình thành bởi quá trình này là đường rò.

RHM cũng có thể hình thành do bệnh viêm loét đại trực tràng, Crohn. RHM do bệnh này thường phức tạp.

Chẩn đoán RHM như thế nào?

Về lâm sàng:

  • Tiền sử áp xe cạnh hậu môn.
  • RHM có thể biểu diện với các triệu chứng sau: Chảy dịch mủ, dịch phân qua lỗ cạnh HM. Tái đi tái lại từng đợt.
  • Thăm khám với dụng cụ có thể thấy lỗ rò trong và ngoài.
  • Có thể dựa theo luật Goodsall để định hướng tìm lỗ rò trong.

Chẩn đoán xác định:

  • Nội soi hậu môn-trực tràng phát hiện lỗ rò.
  • Bơm xanh-methylene, oxy già để tăng khả năng tìm thấy lỗ rò trong.
  • Chụp đường rò.

Chẩn đoán loại đường rò: Dựa vào các thăm dò sau (nhưng không phải tất cả) tùy lâm sàng cụ thể trên từng người bệnh:

  • Siêu âm đầu rò nội soi.
  • Chụp MRI cho biết liên quan đường rò với cơ thắt, từ đó phân loại đường rò.

Khi điều trị phẫu thuật cần làm những gì?

Các xét nghiệm bao gồm: xét nghiệm phục vụ việc chẩn đoán xác định bệnh; xét nghiệm để chẩn đoán giai đoạn/phân loại bệnh, xét nghiệm khác để đánh giá bilan toàn thân và phục vụ phẫu thuật.

  • Xét nghiệm chẩn đoán xác định bệnh: Nội soi hậu môn-trực tràng phát hiện lỗ rò, có thể bơm xanh-methylene, oxy già để tăng khả năng tìm thấy lỗ rò trong. Chụp đường rò.
  • Xét nghiệm để phân loại đường rò: Siêu âm đầu rò nội soi, chụp MRI cho biết liên quan đường rò với cơ thắt, từ đó phân loại đường rò.
  • Xét nghiệm khác để đánh giá bilan toàn thân: Xét nghiệm đánh giá bilan gan, thận, hô hấp, tim mạch nếu có bệnh nền kèm theo.
  • Xét nghiệm phục vụ phẫu thuật: Đông máu cơ bản, định nhóm máu.

Điều trị bệnh như thế nào?

  • Hướng điều trị: Sau khi có kết quả chẩn đoán xác định và phân loại đường rò. Bác sĩ sẽ tư vấn về các cách điều trị phẫu thuật.
  • Chỉ định phẫu thuật gần như là tuyệt đối vì không có phương pháp điều trị khác.
  • Chống chỉ định phẫu thuật: Bệnh toàn thân phối hợp nặng: suy thận, suy tim, suy hô hấp…; đang trong tình trạng rối loạn đông máu.
  • Nguyên tắc phẫu thuật: Tùy thuộc vị trí liên quan đường rò với cơ thắt mà có các phương pháp phẫu thuật khác nhau.
    • Đối với trường hợp đường rò đơn giản (xuyên cơ thắt thấp, gian cơ thắt): cắt đường rò hoặc mở đường rò. Mở đường rò, có cắt hoặc không cắt đường rò.
    • Đối với trường hợp đường rò phức tạp có thể chọn lựa:
      • Đặt seton thắt hoặc không: Đặt dây qua đường rò nối lỗ rò trong và lỗ rò ngoài thắt hoặc không để tạo một đường rò liên tục và dây này sẽ cắt mở đường rò một cách từ từ, không làm mất chức năng cơ thắt.
      • Thắt và cắt đường rò LIFT (ligation of intersphincteric fistula tract), phương pháp được thực hiện bằng việc thắt đường rò qua một đường rạch và phẫu tích qua đường gian cơ thắt.
      • Làm tắc đường rò bằng keo sinh học, bằng nút chặn.
      • Chuyển đường rò. Với đường rò mãn tính, xơ hóa chắc chắn, có thể phâu tích toàn bộ đường rò đến sát lỗ trong, thắt sát gốc và tạo một hầm tương ứng dưới da-niêm mạc để chuyển đường rò nguyên phát đến.
      • Chuyển vạt,
      • Điều trị rò dưới hướng dẫn của nội soi (Video Assisted Anal Fistula Treatment).
    • Tùy khả năng và trang bị phương tiện mà áp dụng phương pháp điều trị.
  • Phẫu thuật điều trị tạm thời: Trong trường hợp áp xe hậu môn, rạch tháo mủ.

Từ khóa.

Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn. Áp xe hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh

Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

Viêm ruột thừa

Tổng quan
Ruột thừa là một ống tịt, hình ngón tay, nhô ra từ đáy manh tràng, ở phía dưới bên phải ổ bụng. Ruột thừa dường như không có một chức năng cụ thể.
Viêm ruột thừa thường gây đau ở vùng bụng dưới bên phải. Tuy vậy, hầu hết mọi người, đau bắt đầu ở quanh rốn rồi sau đó mới khu trú ở bên phải. Khi viêm ruột thừa muộn hơn, đau thường tăng lên và cuối cùng trở nên trầm trọng.
Bất cứ ai cũng có thể bị viêm ruột thừa, nhưng viêm ruột thừa thường xảy ra ở độ tuổi từ 10 đến 30. Điều trị tiêu chuẩn là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa.
Triệu chứng
Dấu hiệu và triệu chứng của viêm ruột thừa có thể bao gồm:
  • Đau bên phải của vùng bụng dưới. 
  • Đau bắt đầu quanh rốn và chuyển sang bụng dưới bên phải. 
  • Đau tăng khi ho, đi bộ hoặc những vận động khác.
  • Buồn nôn,  nôn. 
  • Ăn mất ngon.
  • Sốt nhẹ và tăng dần khi bệnh tiến triển.
  • Táo bón hoặc tiêu chảy.
  • Chướng bụng. 

Điểm đau có thể khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi và vị trí của ruột thừa. Khi đang mang thai, đau có thể xuất hiện từ bụng trên vì ruột thừa bị đẩy cao hơn trong thời kỳ mang thai.

Khi nào đến gặp bác sĩ

Gặp bác sĩ nếu có các dấu hiệu hoặc triệu chứng như trên không giảm, hoặc hết sau vài giờ. Đau bụng dữ dội là dấu hiệu đòi hỏi sự chăm sóc y tế ngay lập tức. 

Nguyên nhân viêm ruột thừa. 
Sự tắc nghẽn trong lòng của ruột thừa dẫn đến nhiễm nhiễm khuẩn trong lòng ruột thừa, sau đó là viêm ruột thừa. Các vi khuẩn nhân lên nhanh chóng làm ruột thừa sưng lên và đầy mủ. Nếu không điều trị kịp thời, ruột thừa có thể vỡ.
Biến chứng
Viêm ruột thừa có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, như:
  • Ruột thừa vỡ. Làm mủ lan ra khắp ổ bụng (vẫn gọi là viêm phúc mạc). Có khả năng đe dọa đến tính mạng, tình trạng này đòi hỏi phải phẫu thuật ngay để lấy ruột thừa và làm sạch ổ bụng.
  • Áp xe. Là khi ruôt thừa vỡ ra nhưng mủ được ruột quanh đó bọc lại. Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ phẫu thuật tháo mủ ra ngoài bằng cách đặt ống thông qua thành bụng vào ổ áp xe. Ống này được lưu lại vào ngày và bệnh nhân được cho thuốc kháng sinh để làm sạch nhiễm trùng. Khi nhiễm trùng đã sạch, ngubệnh sẽ phải phẫu thuật để loại bỏ ruột thừa. Trong một số trường hợp, áp xe được tháo mủ, và ruột thừa được loại bỏ ngay lập tức.

Phẫu thuật nội soi điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay

Bạn bị tăng tiết mồ hôi tay ở mức độ nào? Bảng dưới đây lượng hóa mức độ tiết mồ hôi của bàn tay.

lossless-page1-876px-Visual_scale_for_the_quantification_of_hyperidrosis.tif

Có một số cách để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi, có thể kể ra như sau:

KHÔNG PHẫU THUẬT: chi tiết tại đây

  • Thuốc chống mồ hôi (ví dụ như Zirconium nhôm, Tetrachlorohydrex Glycine): ưu điểm: an toàn, rẻ tiền, sẵn có, dễ sử dụng. Nhược điểm: phải sử dụng hàng ngày, tác dụng ngắn, có thể có kích ứng da.
  • Điện ion. Nhược điểm: Cần thiết bị, dùng theo chu kỳ 2-3  lần/tuần, kích thích khó chịu khi thực hiện, tác dụng ngắn ngày.
  • Các thuốc anticholinergic. Nhược điểm: phải dùng hàng ngày, chịu tác dụng phụ của thuốc.
  • Liệu pháp tâm lý.
  • Tiêm botulinum bàn tay: nhược điểm: đau đớn, khá đắt tiền, tác dụng kéo dài khoảng 6 tháng, có thể nhược, liệt cơ.
  • Tiêm cồn diệt hạch giao cảm ngực: Tác dụng không chắc chắn, tái phát.

PHẪU THUẬT:  “Cắt hạch giao cảm” (Sympathectomy) được chỉ định như một phương pháp điều trị có hiệu quả vĩnh viễn từ năm 1920. Thông thường, nó được lựa chọn như là phương pháp điều trị cuối cùng.

Cắt hạch giao cảm là phẫu thuật nhằm phá hủy hạch giao cảm hoặc chuỗi liên kết hạch chi phối việc tăng tiết mồ hôi. Có thể là cắt bỏ, đốt điện hoặc sử dụng các clip phẫu thuật kẹp cắt hạch giao cảm, chuỗi hạch giao cảm ngực giữa T2 và T4 hoặc T5. Hiện nay, hạch có thể không bị phá hủy nhưng chuỗi liên kết hạch sẽ bị cắt đứt (nếu vậy từ chính xác phải là Sympathicotomy nhưng thuật ngữ “Cắt hạch giao cảm” vẫn được sử dụng như một quy ước).
Cắt hạch giao cảm cũng được sử dụng cho một số bệnh khác như: thiếu máu chi trên, hội chứng Raynaud.

Chi phối giải phẫu:

  • Hạch ngực thứ hai (T2) chi phối tiết mồ hôi ở mặt, lòng bàn tay, và nách.
  • Hạch ngực thứ ba (T3) chi phối tiết mồ hôi lòng bàn tay và nách.
  • Hạch ngực thứ tư (T4) chi phối tiết mồ hôi ở nách.

Tăng tiết mồ hôi lòng bàn chân cũng được chữa khỏi ở một số bệnh nhân trải qua phẫu thuật này bởi một cơ chế còn chưa rõ.

Có hai phương pháp phẫu thuật:

  • Phẫu thuật mở
  • Nội soi ngực: ETS (endoscopic thoracic sympathectomy or sympathicotomy)/ ETB (endoscopic thoracic block by clipping)/VATS (video assisted thoracic surgery).
    Dù tên có khác nhau nhưng đều cho cùng một kỹ thuật.

Sự ra đời của phẫu thuật diệt hạch giao cảm bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX. Năm 1920, Kotzareff là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật diệt hạch giao cảm để điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi tay. Sau đó, ông đã tuyên bố rằng ‘Giao cảm là một phương pháp điều trị hiệu quả vĩnh viễn cho tăng tiết mồ hôi. Tuy vậy, phẫu thuật mở có nhiều hạn chế với nguy cơ đáng kể các biến chứng và sẹo lớn.

Hiện nay, với phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phương pháp nội soi đã trở nên được ưa chuộng vì những cải thiện về biến chứng, sẹo phẫu thuật và thời gian phẫu thuật. Phẫu thuật nội soi ngực lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1910, nhưng đến tận năm 1940 mới có báo cáo đầu tiên mô tả phương pháp cắt hạch giao cảm này. Ở châu Âu, hàng trăm ca cắt hạch giao cảm nội soi ngực được thực hiện trong những năm 40 thế kỷ trước. Năm 1942, Hughes công bố phương pháp phẫu thuật nội soi ngực điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi. Vì những lý do không rõ phương pháp này rơi vào quên lãng và không được áp dụng trên quy mô lớn hơn cho đến cuối những năm 1980.

CHÚNG TÔI PHẪU THUẬT NHƯ THẾ NÀO? chúng tôi thực hiện phẫu thuật nội soi ngực đốt hoặc cắt hạch giao cảm, được thực hiện thường quy dưới gây mê toàn thân. Cụ thể phẫu thuật thực hiện với 2-3 đường rạch da nhỏ 0.5cm ở hai bên thành ngực dưới hõm nách để không nhìn thấy sẹo. Đảm bảo tốt nhất về mặt thẩm mỹ. Hạch giao cảm ngực được che phủ bởi lớp mỏng của màng phổi trong suốt, do vậy có thể thấy dễ dàng dưới camera nội soi. Sau đó phẫu thuật viên sử dụng móc điện đốt và cắt các hạch giao cảm từ đốt sống ngực thứ 2 đến sống ngực thứ 3 (thuật ngữ chuyên môn gọi là T2–>T3) cho các bệnh nhân tăng tiết mồ hôi ở bàn tay; T2-T4  cho những bệnh nhân có tình trạng tăng tiết mồ hôi ở nách.

Phẫu thuật nội soi ngực điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi đã cho kết quả vượt trội: Có kết quả tức thì, phẫu thuật một lần cho tác dụng lâu dài, thẩm mỹ, an toàn và thời gian nằm viện chỉ 1 ngày.

Nhiều bệnh nhân đến với chúng tôi sau hàng chục năm phải mang những khó chịu của đôi bàn tay ướt đã trải qua rất nhiều các phương pháp điều trị khác không kết quả, đã khỏi bệnh ngay sau phẫu thuật và hoàn toàn hài lòng khi chấp nhận một khó chịu nho nhỏ là ra mồ hôi bù trừ ở vị trí khác của cơ thể.

Tuy vậy, đây là phương pháp điều trị hiện đại, chỉ thực hiện được ở cơ sở phẫu thuật, đòi hỏi về kỹ thuật và chi phí cao.

Một số hình ảnh.

DSCF6119
Từng giọt mồ hôi li ti lớn dần trên khắp bàn tay
DSCF6121
Bàn tay sũng mồ hôi sau 2 phút

Từ khóa:

chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay.

Tham khảo

Thoracic sympathectomy for hyperhidrosis: from surgical indications to clinical results https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5392541/pdf/jtd-09-S3-S178.pdf

Thoracoscopic (VATS) Sympathectomy for Hyperhidrosis https://med.stanford.edu/ctsurgery/clinical-care/thoracic-surgery-services/thorascopic-vats-sympathectomy-hyperhidrosis.html

Endoscopic thoracic sympathectomy https://medlineplus.gov/ency/article/007291.htm

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

Phẫu thuật robot/phẫu thuật nội soi robot hỗ trợ (Robotic-assisted laparoscopy)

I. Lịch sử phát triển robot phẫu thuật

  • Thuật ngữ robot lần đầu tiên đước sử dụng bởi kịch gia người Czech, Karel Capek năm 1921 trong vở kịch Rossom’s Universal Robots của ông. Nó xuất phát từ chữ robota có nghĩa là lao động cưỡng bức.
  • Robot phẫu thuật đầu tiên trên thế giới là “Arthrobot” sử dụng tại Vancouver, Canada vào năm 1983.
  • Năm 1985, robot PUMA 560, thực hiện sinh thiết não dưới hướng dẫn CT.
  • Năm 1988, robot PROBOT tại Imperial College London, đã thực hiện phẫu thuật tuyến tiền liệt.
  • Năm 1992, robot ROBODOC của tập đoàn Intergrated đã thực hiện mài xương đùi một cách chính xác trong phẫu thuật thay khớp háng.
  • Sự hợp nhất 2 công ty Intuitive Surgical (thành lập 1995, sản phẩm là robot Mona và Leonardo) với Computer Motion (công ty đã tạo ra các robot phẫu thuậtAESOP điều khiển bằng giọng nói và ZEUS phẫu thuật từ xa) làm cho ngành công nghiệp chế tạo robot phẫu thuật phát triển lên một tầm mới, tạo ra hệ thống robot phẫu thuật da Vinci.

II. Cách thức hoạt động của Robot phẫu thuật ngày nay.

Robot có 3 phần riêng biệt nhưng kết nối với nhau:

Sơ đồ hệ thống:figure01

  1. Vision cart bao gồm camera nội soi, máy quay, máy tính-bộ vi xử lý-não robot và các thiết bị khác để tạo ra một hình ảnh 3D của các hoạt động.Carro-Vision
  2. Tháp robot (the tower, patient cart) đó là cấu phần robot trực tiếp phẫu thuật trên bệnh nhân. Nó có các cánh tay robot (4 tay), 3 trong số đó có thể giữ các dụng cụ phẫu thuật khác nhau, và một giữ camera 3D. Những cánh tay này được điều khiển bởi một máy tính có khả năng xử lý tái tạo* chính xác các động tác của tay phẫu thuật viên mổ. Các dụng cụ phẫu thuật có khớp được kết nối với cánh tay của robot và đưa vào trong cơ thể người bệnh qua một ống nhỏ gọi là cannule. Hoạt động tay của phẫu thuật viên được máy tính thu nhỏ (scaled) và lọc (filtered) để loại bỏ các rung động do sự run tay sau đó sẽ chuyển thành các vi chuyển động tương ứng của dụng cụ phẫu thuật. Đồng thời camera cho những hình ảnh 3D trung thực tới giao diện điều khiển của phẫu thuật viên. Tỷ lệ thu nhỏ có thể điều chỉnh được ví dụ khi ta chọn tỷ lệ 3:1 thì khi tay phẫu thuật viên di chuyển 6cm thì dụng cụ của robot di chuyển một cách chính xác và tương ứng 2cm.daVinci_oblique_thumb
  3. Buồng điều khiển (the console) là nơi bác sĩ phẫu thuật ngồi điều khiển robot thông qua màn hình 3D phóng đại và có độ nét cao. Các bác sĩ phẫu thuật điều khiển bốn cánh tay của robot bằng các hoạt động tinh tế của ngón tay thông qua hai điều khiển thông minh.

davinci_si_console

Bác sĩ phẫu thuật cũng điều khiển bằng các bàn đạp ở 2 chân để chọn các tùy chọn bổ sung như khả năng chuyển đổi giữa hai nguồn năng lượng khác nhau; chọn điều khiển cánh tay dụng cụ thứ 3, điều chỉnh âm thanh, hình ảnh. Một  màn hình 2D bổ sung liên kết phần còn lại của nhóm phẫu thuật sẽ nhìn thấy những gì phẫu thuật viên đang làm.

III. Những thành tựu phẫu thuật bằng robot

  • Năm 1997khâu nối ống dẫn trứng được thực hiện thành công ở Cleveland sử dụng hệ thống robot ZEUS.
  • Tháng 5 năm 1998, Friedrich-Wilhelm Mohr sử dụng robot Da Vinci hỗ trợ thực hiện phẫu thuật bypass tim tại Trung tâm Tim Leipzig ở Đức.
  • Ngày 02 Tháng chín 1999, Randall Wolf và Robert Michler thực hiện bypass tim đầu tiên với hỗ trợ robot tại Đại học bang Ohio, Mỹ.
  • Tháng 10 năm 1999, Douglas Boyd và Reiza Rayman sử dụngrobot ZEUS phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không ngừng tim ở Canada.
  • Ngày 7 Tháng Chín 2001, Jacques Marescaux và Michel Gagner, ở New York, sử dụng hệ thống robot Zeus để thực hiện phẫu thuật từ xa cắt bỏ túi mật một bệnh nhân nữ 68 tuổi, ở Strasbourg, Pháp.
  • Tháng 5 năm 2006, robot không người điều khiển đầu tiên được giới thiệu tại Italia.
  • Tháng 2 năm 2008, Mohan Gundeti của Đại học Comer Chicago thực hiện phẫu thuật trên một bé gái 10 tuổi.
  • Tháng 1 năm 2009, Stuart Geffner ghép thận sử dụng robot hoàn toàn tại Trung tâm Y tế Barnabas Saint ở Livingston, New Jersey.
  • Hiện tại phẫu thuật robot dần thay thế phẫu thuật nội soi và cả phẫu thuật mở trước đây không thể hoặc khó có thể thực hiện được bằng nội soi. Phẫu thuật robot được phát triển và áp dụng rộng rãi ở các chuyên ngành và thực hiện các phẫu thuật trước đây là không tưởng.

IV. Khả năng áp dụng.

  • Nhi khoa: Trên 50 loại phẫu thuật Nhi ở ổ bụng và lồng ngực đã được áp dụng robot phẫu thuật cho kết quả hoàn hảo, đặc biệt hữu dụng trong phẫu thuật nang ống mật chủ, Kasai-cho teo đường mật, cắt u trong lồng ngực và cả các phẫu thuật tái tạo. Hạn chế lớn nhất của phẫu thuật robot trong nhi khoa là kích thước dụng cụ.
  • Phụ khoa: Hữu dụng trong cắt tử cung điều trị cả u lành và ác tính; khâu nối ống dẫn trứng, bóc nhân xơ, phục hồi sàn chậu.
  • Trong phẫu thuật ổ bụng:
    • Phẫu thuật robot rất thích hợp với các phẫu thuật giới hạn ở ¼ ổ bụng, đòi hỏi phẫu tích chính xác, đường khâu nhỏ, tinh tế, miệng nối bé.
    • Các báo cáo thấy rằng với phẫu thuật đơn giản như cắt túi mật, ruột thừa mà so sách giữa robot và nội soi thường quy thì phẫu thuật robot không cho kết quả tốt hơn, không an toàn hơn ngoài việc dễ dàng hơn nhưng đắt hơn.
    • Với các phẫu thuật khó, đòi hỏi phẫu tích chính xác, đường khâu nhỏ tinh tế thì phẫu thuật robot vượt trội như: mở cơ thắt thực quản-Phẫu thuật Heller; phẫu thuật điều trị thoát vị cạnh thực quản; cắt dạ dày, đại tràng ung thư nạo vét hạch; cắt thực quản qua lỗ hoành; cắt đuôi tụy bảo tồn lách, cắt khối tá tụy.
    • Mặc dù cắt túi mật, ruột thừa, khâu phình vị dạ dày tạo van chống trào ngược đắt hơn với phẫu thuật robot, không mang lại lợi ích cho người bệnh nhưng là cơ hội tốt cho các phẫu thuật viên mới phẫu thuật trên robot.
  • Phẫu thuật tiết niệu: Phẫu thuật robot cho thấy kết quả vượt trội trong cắt tuyến tiền liệt với con số ngoạn mục 0%/năm 2000 thành 83%/năm 2011. Phẫu thuật robot cũng đặc biệt thích hợp trong ghép thận, tạo hình bể thận, cắm lại niệu quản-bàng quang.
  • Phẫu thuật lồng ngực: Ưu thế với các khối u đặc đỉnh phổi, u thực quản.
  • Phẫu thuật tai mũi họng: Cắt tuyến giáp không sẹo qua đường miệng.

V. Lợi ích của phẫu thuật robot:

  • Cung cấp khả năng chẩn đoán và điều trị phẫu thuật ít xâm lấn, chính xác. Do vậy an toàn, ít đau đớn, giảm sang chấn, rút ngắn thời gian nằm viện và tăng tính thẩm mỹ mang lại sự thoải mái cho người bệnh.
  • Khả năng phẫu thuật từ xa, người bệnh có thể được phẫu thuật bởi các chuyên gia hàng đầu thế giới mà không cần di chuyển hoặc tình trạng bệnh không thể di chuyển.
  • Có thể phẫu thuật tại các môi trường nguy hiểm mà không hoặc ít bị phơi nhiễm nguy cơ (phẫu thuật đồng thời có chiếu tia Xquang, chiếu xạ, chiến trường…)
  • Thời gian học mổ rút ngắn và dễ hơn: Ngắn do phẫu thuật viên đã được đào tạo chuyên phẫu thuật, thậm chí đã thuần thục với phẫu thuật nội soi. Dễ hơn do hình ảnh phẫu thuật 3D, độ phân giải cao và phóng đại 10 lần, đồng thời thao tác dụng cụ robot mô phỏng chính xác và thuận chiều với hoạt động tay của phẫu thuật viên.
  • Mở rộng khả năng: Với phẫu thuật nội soi quy ước, phẫu thuật viên chỉ có thể điều khiển 2 dụng cụ hoặc một dụng cụ và camera do vậy luôn cần ít nhất 1 phụ mổ giữ camera và/hoặc dụng cụ và có thể có sự không ăn ý giữa phẫu thuật viên và phụ mổ. Với phẫu thuật robot, phẫu thuật viên có thể điều khiển 4 cánh tay robot mang 1 camera và 3 dụng cụ, có thể đáp ứng hầu hết các loại phẫu thuật mà không cần phụ mổ. Giảm người lao động trong tương lai.
  • Trả lại sự linh hoạt, khéo léo cho đôi bàn tay phẫu thuật viện: Với phẫu thuật nội soi quy ước, sự linh hoạt của đôi bàn tay phẫu thuật viên bị hạn chế khi thao tác từ ngoài thông qua một dụng cụ cứng thẳng hoặc cong khi đi xuyên qua một điểm trên thành bụng người bệnh đưa đến hiện tượng:
    • Ngược chiều: muốn đưa dụng cụ lên cao thì phẫu thuật viên phải hạ tay xuống thấp, muốn đưa dụng cụ qua trái thì tay phẫu thuật viên di chuyển qua phải và ngược lại.
    • Hạn chế thao tác: Sự linh hoạt bàn tay của phẫu thuật viên bị hạn chế chỉ còn các chuyển động tới-lui, lên-xuống, phải-trái và xoay. Do đó nhiều khi rất khó trong việc phẫu tích, khâu, cắt theo mong muốn. Ví dụ: Kéo nội soi dễ dàng cắt một đường dọc theo hướng của thân kéo nhưng sẽ rất khó thực hiện một đường cắt ngang. Để cắt một đường cắt ngang thì hoặc phải đổi dụng cụ, hoán đổi vị trí đặt dụng cụ hoặc phải xoay tạng muốn cắt một góc 90 độ nếu có thể.
    • Với phẫu thuật robot, sự linh hoạt của ngón và cổ tay của phẫu thuật viên không những được tái lập đầy đủ, chính xác, thuận chiều thông qua máy tính và các dụng cụ phẫu thuật đa khớp mà bộ lọc máy tính còn giúp robot “phớt lờ” các rung động do sự run tay của phẫu thuật viên. Điều này, như một phẫu thuật viên đã ví “It’s as if I’ve miniaturized my body and gone inside the patient.”(có thể thu nhỏ người lại và chui vào trong bệnh nhân để phẫu thuật)
  • Thoải mái: Buồng điều khiển được thiết kế có thể điều chỉnh phù hợp với tầm vóc của phẫu thuật viên, tỷ lệ biên độ di chuyển tay phẫu thuật viên và tay robot. Có thể “định nghĩa lại vị trí” để thích hợp vị trí không gian do đó phẫu thuật viên không bao giờ phải vươn tay, vặn người để phẫu thuật trong nhiều giờ như phẫu thuật nội soi quy ước khi phải thao tác ở sâu  và trái tay. Do vậy giảm giảm căng thẳng và mệt mỏi không đáng có.
  • Nâng tầm thương hiệu bệnh viện. Tại Việt nam, mới có một bệnh viện duy nhất có robot phẫu thuật. Khi phẫu thuật robot từ xa phát triển (2001, Jacques Marescaux và Michel Gagner, ở New York, thực hiện phẫu thuật từ xa cắt bỏ túi mật một bệnh nhân ở Strasbourg, Pháp) robot phẫu thuật là phương tiện liên kết giữa bệnh nhân và phẫu thuật viên; giữa các bệnh viện trên toàn thế giới, không còn khoảng cách địa lý.
  • Cạnh tranh: phẫu thuật robot là xu thế phát triển của phẫu thuật: Trong hơn 10 năm qua riêng hệ thống robot da Vinci đã thực hiện trên 1.5 triệu phẫu thuật, với các con số tăng trưởng đột biến.
Loại phẫu thuật cắt tử cung 2000 2005 2011
Mổ mở 65% 62% 36%
Mổ ít xâm lấn 35% 38% 37%
Mổ robot 0% 0% 27%

 

Cắt tuyến tiền liệt 2000 2005 2011
Mổ mở và nội soi 100% 77% 17%
Mổ robot 0% 23% 83%

Với các con số ấn tượng đó các bệnh viện sẽ trang bị robot để tạo áp lực cạnh tranh.

  • Xu hướng: Khi phẫu thuật mở đã “lạc hậu” bị lấn lươt và thay thế bởi phẫu thuật nội soi. Khi phẫu thuật nội soi đã trở nên “bão hòa” cả về số lượng, phân bố cũng như phát triển kỹ thuật thì phẫu thuật robot đang là một tiếp cận mới với đầy triển vọng phát triển.
  • Trung tâm đào tạo trong nước, khu vực: Là điều có thể với hình thức đào tạo tại chỗ và liên kết đào tạo từ xa. Phục vụ nhu cầu đào tạo tại chỗ, tự đào tạo nguồn nhân lực khi lứa phẫu thuật viên tiên phong được đào tạo trở về.

VI. Những nhược điểm và trở ngại trong triển khai phẫu thuật robot tại Việt nam

  • Phẫu thuật robot vẫn là các cuộc mổ xẻ, vẫn dung các phương tiện cắt-nối truyền thống: dao, kéo, kim chỉ khâu, buộc…và con người điều khiển do vậy mang đầy đủ những nguy cơ rủi ro của các cuộc phẫu thuật và sai lầm của phẫu thuật viên.
  • Giá thành: một hệ thốngphẫu thuậtrobotcó giá hàng triệu USD và hàng trăm nghìn USD một nămbảoduy trì (hiện tại 150.000) với chi phí vật tư tiêu hao đắt đỏ mà khó có thể chờ các hãng giảm giá (họ thường cải tiến, nâng cấp để tăng hoặc giữ giá và có rất ít hãng sản xuất robot do đó họ có quyền định giá).
  • Không có cảm giác tay khi phẫu thuật: Với phẫu thuật robot, phẫu thuật viên hoàn toàn làm việc bằng hình ảnh, không thể sờ nắn cảm giác mô định cắt bỏ trước khi đưa ra quyết định. Nhược điểm này đang được khắc phục để đưa vào cảm giác tay cho phẫu thuật viên.
  • Kích thước của dụng cụ lớn còn lớn đặc biệt trong phẫu thuật nhi khoa. Nghiên cứu hiện tại với dụng cụ hiện tại cần khoảng cách mũi ức-xương mu >15cm và liên gai chậu trước trên >13cm.
  • Bị giới hạn ở một trường phẫu thuật: Robot phẫu thuật phát huy tác dụng tốt khi phẫu thuật đó giới hạn trên một trường mổ hẹp nhưng lại bị hạn chế nếu phẫu thuật đó cần thao tác trên một khoảng không gian rộng vì các xung đột của dụng cụ (collisions).
  • Sự trễ thời gian (latency) đó là hành động của robot chậm hơn với hành động của phẫu thuật viên. Điều này là trở ngại lớn nhất hiện nay với phẫu thuật từ xa. Khó khăn nhất là đường truyền tín hiệu cần đảm bảo an toàn, tốc độ cao và tin cậy. Các nghiên cứu cho thấy: nếu trễ 150-200 milli giây thì có thể nguy hiểm, sự trễ của tín hiệu vệ tinh là 600milli giây. Dự án phẫu thuật Lindbergh, Jacques Marescaux từ New york cắt túi mật cho bệnh nhân ở Paris năm 2001 với khoảng cách 7000km đã sử dụng đường truyền quang fiberopticATM của France Telecom với tốc độ cỡ 10 Gbit/s và khoảng trễ thời gian chấp nhận được là 135 milli giây.
  • Sự lỗi của phần mềm máy tính.
  • Đội ngũ phẫu thuật viên, dụng cụ viên sẵn có cần được đào tạo.
  • Giá thành phẫu thuật cao và không có bệnh nhân sẵn sàng chi trả phí phẫu thuật.
  • Cần phòng mổ tương thích.
DSCF6127
Docking dụng cụ

Robot lặp các động tác phẫu thuật từ tay người thuật viên

Tham khảo:

http://intuitivesurgical.com

http://allaboutroboticsurgery.com

A Consensus Document on Robotic Surgery Prepared by the SAGES-MIRA Robotic Surgery Consensus Group

Nguồn hình ảnh:

http://intuitivesurgical.com

Key words: Phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot.

  • Bs Nguyễn Ngọc Khánh
  • Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi
  • Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!
  • GM: nnkhanh72@gmail.com