Category: 05. Thoát vị


Bệnh nhân nữ, 58 tuổi, người Mỹ được chuyển tới chúng tôi từ một bệnh viện lớn của nước ngoài, sau 1 ngày đau bụng cơn dữ dội kèm nôn và bí trung tiện. Hỏi bệnh và thăm khám: người bệnh có tiền sử mổ viêm ruột thừa vỡ cách 16 năm, đau cơn đỡ hơn nhưng bắt đầu sốt, bụng chướng, có điểm đau chói vùng hạ vị bên phải, cách xa đường mổ viêm ruột thừa cũ-một đường ngang vùng hố chậu phải. Xquang bụng thường quy có hình mức nước-hơi ở ruột non, CTscanner thấy các quai ruột non giãn, chứa dịch, đại tràng hoàn toàn xẹp, và đặc biệt các bác sĩ xquang đã thấy một dấu hiệu vô cùng quan trọng đó là một quai ruột non giãn to và chân hẹp ở vùng tiểu khung, gợi ý bệnh cảnh của xoắn hay nghẹt ruột.

CTscanner: quai ruột giãn và chân hẹp.

CTscanner: quai ruột giãn và chân hẹp.

CTscanner: bình diện cắt ngang

CTscanner: bình diện cắt ngang

Với bệnh cảnh lâm sàng kết hợp với CĐHA như vậy, bệnh nhân được quyết định mổ nội soi cấp cứu ngay sau đó với chẩn đoán ban đầu-xoắn ruột.

Hình ảnh trong mổ:

Trong ổ bụng có máu không đông

Trong ổ bụng có máu không đông

Các

Các quai ruột non giãn

Quai hỗng tràng nghẹt nhồi máu và hoại tử

Quai hỗng tràng nghẹt nhồi máu và hoại tử, rất khó khăn để kéo được ra khỏi vòng thoát vị

Cắt mở rộng vòng thoát vị để kéo ruột ra

Cắt mở rộng vòng thoát vị để kéo ruột ra

Vòng thoát vị là do có lỗ hổng ở dây chằng rộng bên phải(bình thường phải kín.

Vòng thoát vị được tạo thành do tồn tại một lỗ hổng bất thường ở dây chằng rộng bên phải (bình thường phải kín).

Khâu kín lỗ thoát vị

Khâu kín lỗ thoát vị

Quai ruột hoại tử được kéo ra ngoài qua đường mở nhỏ qua sẹo mổ viêm ruột thừa trước đó

Quai ruột hoại tử được kéo ra ngoài qua một đường mở nhỏ qua sẹo mổ cũ viêm ruột thừa trước đó

Đoạn ruột hoại tử  khoảng 20cm được cắt bỏ ngoài ổ bụng và nối tận-tận.

Sau mổ bệnh nhân hết đau, trung tiện và đi lại vào ngày thứ 2, hồi phục và ra viện ngày thứ 5 sau mổ.

Thoát vị nội hiếm gặp, và nếu có gặp thì chủ yếu ở các bệnh nhân sau mổ cắt nối ống tiêu hóa mà không hoặc đóng mạc treo ruột quá thưa đủ để ruột chui qua. Thoát vị dây chằng rộng chỉ chiếm 4 đến 7% các thoát vị nội.

Chẩn đoán thoát vị nội khó dù việc chẩn đoán tắc ruột là khá dễ dàng. CTscanner có thể gợi ý thoát vị nội xong chẩn đoán xác định thoát vị dây chằng rộng gần như vẫn là điều không thể.

Tham khảo:

Broad ligament Hernia-Associated Bowel Obstruction. 

Intestinal obstruction secondary  to incarcerated broad ligament hernia: a case report.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com

Advertisements

Tóm tắt

Bài viết này, tôi mô tả Thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (thoát vị Grynfeltt-Lesshaft) ở một bệnh nhân nam 57 tuổi, một loại thoát vị rất hiếm gặp, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Xanh Pôn tháng 5 năm 2013. Qua đó điểm lại y văn về lịch sử, giải phẫu, lâm sàng, chẩn đoán và điều trị loại thoát vị này.

Summary

This article, I describe a Superior Lumbar Triangle hernia (Grynfeltt-Lesshaft hernia) of a 57 year old male patient, a very rare type of hernia, treated by laparoscopic surgery at Saint Paul Hospital in May 2013. And review history, anatomy, clinical diagnosis and treatment of this rare type of hernia.

Lịch sử

Thoát vị thắt lưng rất hiếm [1], chưa có y văn nào cho ra tần suất gặp loại thoát vị này trong cộng đồng. Năm 1672, Paul Barbette được cho là đã mô tả thoát vị thắt lưng khi ông viết “kinh nghiệm đã dạy tôi rằng phúc mạc có thể vỡ mặt sau của hướng về phía lưng, do đó tạo thành một thoát vị” [2]. DeGarangeot mô tả ca thoát vị thắt lưng đầu tiên năm 1731 khi mổ tử thi. Năm 1750, Ravaton, người đầu tiên thông báo phẫu thuật thành công ca thoát vị thắt lưng nghẹt [1, 2].

Petit năm 1783 mô tả ca thoát vị nghẹt qua tam giác thắt lưng dưới và ngày nay thoát vị này mang tên ông. Một thế kỷ sau, Grynfeltt mô tả thoát vị qua tam giác thắt lưng trên phân biệt với thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới (thoát vị Petit). Năm 1870 Lesshaft khẳng định có sự tồn tại tách biệt thoát vị tam giác thắt lưng trên và thông báo một ca lâm sàng. Năm 1890, Macready tập hợp qua y văn được 25 ca, trong đó có 2 ca thoát vị qua tam giác thắt lưng trên và gọi đó là khoang Grynfeltt-Lesshaft từ đó có thuật ngữ thoát vị Grynfeltt-Lesshaft [1].

Năm 1925, Virgilio tập trung y văn được 109 ca và thấy rằng thoát vị  Grynfeltt-Lesshaft hay gặp hơn thoát vị  Petit [3]. Năm 1948, Watson tập trung được 186 ca qua y văn thế giới [4]. Năm 1971, theo Thomas có khoảng 220 ca [1]. Số liệu gần đây nhất, năm 2008, Satish cho rằng có khoảng 300 ca [5].

Giải phẫu

Hai vị trí thoát vị thắt lưng thường gặp là thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (Grynfeltt-Lesshaft) và thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới (Petit).

Sơ đồ giải phẫu của tam giác thắt lưng trên và dưới

Sơ đồ giải phẫu của tam giác thắt lưng trên và dưới

Goodman và Speese qua phẫu tích 76 xác thấy rằng tam giác thắt lưng trên xuất hiện ở hơn 93% xác. Giới hạn bởi: bờ dưới xương sườn 12 và một phần của cơ răng sau dưới, giới hạn trong bởi cơ vuông thắt lưng, ngoài bởi cơ chéo trong. Nền của tam giác là mạc ngang. Điểm yếu của tam giác thắt lưng trên nằm ngay dưới xưng sườn 12, nơi không được che phủ bởi cơ chéo ngoài và là nơi đi ra của bó mạch thần kinh liên sườn 12.

Tam giác thắt lưng dưới được giới hạn dưới bởi mào chậu, bờ tự do của cơ rộng lưng, cơ chéo ngoài. Nền cân cơ của tam giác này mạnh hơn nhiều tam giác thắt lưng trên.

Ca lâm sàng

Bệnh nhân nam 57 tuổi, vào viện vì xuất hiện khối phồng vùng thắt lưng bên phải khoảng 3 tháng, không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuật trước đây. Khối này thay đổi kích thước, đôi khi làm bệnh nhân đau và chướng bụng.  Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa trong giới hạn bình thường.


Hình ảnh khối phồng khi cho bệnh nhân rặn

Hình ảnh khối phồng khi cho bệnh nhân rặn

Chụp CT scanner ổ bụng: Nội dung thoát vị là đại tràng.

Chụp CT scanner ổ bụng: Nội dung thoát vị là đại tràng (mũi tên).

Lỗ và bao thoát vị sau khi đã kéo đại tràng ra ngoài

Lỗ và bao thoát vị sau khi đã kéo đại tràng ra ngoài

Cơ thành bụng sau, lỗ thoát vị sau khi đã bóc tách phúc mạc và lật đại tràng phải, thận phải vào trong.

Cơ thành bụng sau, lỗ thoát vị sau khi đã bóc tách phúc mạc và lật đại tràng phải, thận phải vào trong.

Đặt mesh và cố định mesh

Đặt mesh và cố định mesh

Khâu lại phúc mạc che phủ mesh bằng chỉ V-Lock

Khâu lại phúc mạc che phủ mesh bằng chỉ V-Lock

Đóng xong phúc mạc che phủ mesh.

Đóng xong phúc mạc che phủ mesh.

Sau mổ bệnh nhân được đeo đai bụng tăng cường.

Sau mổ bệnh nhân được đeo đai bụng tăng cường.

Bệnh nhân sau mổ ngày thứ 5, khi bỏ đai lưng.

Bệnh nhân sau mổ ngày thứ 5, khi bỏ đai lưng.

Sau mổ diễn biến tốt. Bệnh nhân đước hướng dẫn ngồi sớm, tập vận động, mang đai lưng. Ra viện ngày thứ 7 sau mổ.

Bàn luận.

Về tỷ lệ, phân loại và biến chứng:

  • Tỷ lệ: Thoát vị thắt lưng hiếm gặp, chưa có tài liệu nào cho biết tỷ lệ bệnh trong cộng đồng. Watson năm 1948 tổng hợp được 186 ca thoát vị thắt lưng qua các báo cáo tiếng Anh và nước ngoài. Năm 1971 Thomas ước chừng có 220 ca. Con số thực của thoát vị thắt lưng không rõ, một số tác giả ước đoán khoảng 300 ca [3, 5].
  • Phân loại: 1) Theo bệnh sinh: Có bẩm sinhmắc phải. Trong nhóm mắc phải lại chia thành tự phátsau chấn thương, phẫu thuật. 10-20% các thông báo thoát vị thắt lưng là thoát vị bẩm sinh. Trong thoát vị thắt lưng bẩm sinh chủ yếu qua tam giác thắt lưng dưới [5]. Thoát vị thắt lưng tự phát chiếm 54% các thông báo ca lâm sàng. Những yếu tố liên quan với thoát vị thắt lưng tự phát này bao gồm: tuổi, sút cân quá mức, bệnh mãn tính. Thoát vị thắt lưng mắc phải do chấn thương chiếm khoảng 26% và có lẽ thoát vị qua tam giác thắt lưng trên thường gặp hơn thoát vị qua tam giác thắt lưng dưới vì đường mổ thường ở vùng này và vì đây cũng là vùng mỏng nhất của thành bụng sau bên [1]. Rất hiếm gặp thoát vị hai bên, nếu có thì thường kèm các bất thường bẩm sinh khác [5, 6]. 2) Theo nội dung thoát vị: Không có phúc mạc hay ngoài phúc mạc (extraperitoneal) thoát vị không có bao là phúc mạc, Phúc mạc, phúc mạc dính với các tạng trong ổ bụng chui vào lỗ thoát vị khi có tăng áp lực ổ bụng (paraperitoneal) và trong phúc mạc, phúc mạc tạo thành túi thoát vị thực sự và bao quanh nội dung thoát vị (intraperitoneal).
  • Biến chứng: Watson thấy 8% trong 186 thoát vị thắt lưng có nghẹt [4], Goodman và Speese thấy 24% các bệnh nhân có đau [2]. Phần lớn các thoát vị thắt lưng là tự phát sau khi nhấc một vật nặng [4].
  • Nội dung thoát vị: là mạc nối, ruột non, đại tràng, thận, dạ dày, buồng trứng, lách, ruột thừa [2, 5].
  • Bệnh nhân thông báo ở bài viết này có thoát vị qua tam giác thắt lưng trên (thoát vị Grynfeltt-Lesshaft) mắc phải, tự phát, không nghẹt và nội dung thoát vị là đại tràng lên.

Về chẩn đoán bệnh:

  • Triệu chứng của thoát vị thắt lưng không biến chứng rất mờ nhạt, có thể là cảm giác tức nặng vùng thắt lưng, đau lưng, khối phồng vùng thắt lưng khi cho bệnh nhân rặn (nghiệm pháp Valsalva) [2, 7, 8].
  • Chụp cắt lớp vi tính cho phép chẩn đoán xác định bệnh, chẩn đoán phân biệt với các tổn thương dạng khối (u, tụ máu, abces…) đồng thời cho biết nội dung thoát vị [7, 8].

Về điều trị.

  • Tất cả các thoát vị thắt lưng đều nên được sửa chữa trừ khi tình trạng toàn thân không đảm bảo phẫu thuật. Lee và Mattheis khuyên đợi đến 6 tháng tuổi nếu là thoát vị thắt lưng ở trẻ em [9].
  • Mổ mở, cắt bỏ bao thoát vị, khâu kín cổ bao khâu với màng xương sườn 12, khâu cơ răng sau dưới với cơ chéo trong [1]. Phẫu thuật mổ mở cũng có thể sử dụng mesh khi thoát vị lớn, khâu cơ đơn thuẩn sẽ yếu và căng đường khâu [10, 11].
  • Phẫu thuật nội soi đặt mesh cho kết quả tốt, ưu điểm hơn với mổ mở truyền thống về sự giảm đau sau mổ, biến chứng, tỷ lệ tái phát gần. Mổ mở chỉ được khuyến nghị khi đường kính thoát vị lớn hơn 15 cm [12].

Tài liệu tham khảo

1.         Thomas, W.O., Hernia of the Superior Lumbar Triangle. Annals of Surgery February 1971. 173(2): p.       294-297.

2.         Goodman, E.H. and J. Speese, Lumbar hernia. Annal of Surgery, 1916. 65(5): p. 548-560.

3.         Manuel, E.L.B., J.F.B. F., and D.R. Andrea, Hernia bilateral de Grynfeltt. Informe de un caso. Revista Médica 2003. 41(4): p. 339-343.

4.         Watson, L.F., Hernia. St. Louis, C. V. Mosby Company, 1948.: p. 443-447.

5.         Satish, P., et al., Congenital Lumbar Hernia. JK SCIENCE, 2008. 10(3): p. 144-145.

6.         Prasad, S.J.T.a.R., Uncommon Hernias. Fundamentals of Pediatric Surgery, 2011: p. 543-546.

7.         Diego, A.G., C.; Claude, S., Abdominal Wall Hernias: MDCT Findings. American Journal of Roentgenology, 2004. 183: p. 681-690.

8.         Giordano, R.T.A., et al., Grynfeltt-Lesshaft hernia. Annals of Gastroenterology, 2012. 25(64).

9.         Lee, C.M.J. and H. Mattheis, Congenital Lumbar Hernia Archives of Disease in Childhood, 1957: p. 32-42.

10.       Solaini, L., et al., A very simple technique to repair GrynfelttLesshaft hernia. Hernia, 2010. 14(4): p. 439-441.

11.       Yoshiaki, S., Y. Ippei, and I. Nario, Two Cases of Idiopathic Superior Lumbar Hernia. Medical bulletin of Fukuoka University, 2012. 39: p. 277-280.

12.       Moreno-Egea, A., A.C. Alcaraz, and M.C. Cuervo, Surgical Options in Lumbar Hernia: Laparoscopic Versus Open Repair. A Long-Term Prospective Study. Surgical Innovation, 2012.

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com

 

Thoát vị đùi ở bệnh nhân nam

Bệnh nhân nam, lớn tuổi, gày, với bệnh cảnh tắc ruột

Khối phồng vùng bẹn trái, dưới cung đùi

Mổ, các quai ruột trên vị trí thoát vị giãn. Có quai thoát vị dính chắc vào lỗ và túi thoát vị

Quai ruột thoát vị được kéo ra khỏi bao, bao thoát vị được lộn vào trong ổ bụng

Bao thoát vị được cắt bỏ, khâu cung đùi-dải chậu-lược

Một bệnh nhân khác với bệnh cảnh tương tự, nhưng khối thoát vị đẩy lên được và mổ có chuẩn bị, không phải mở bụng

Hình ảnh tắc ruột trên phim CTscanner

Hình ảnh ống tiêu hoá trong bao thoát vị nằm cạnh bó mạch đùi

Thoát vị thắt lưng

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com

 

Thoát vị bẹn là gì?

Thoát vị bẹn xảy ra khi có sự ‘di chuyển’ nội dung ổ bụng (ruột, mạc nối) vào trong ống bẹn do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) hay có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải).

Biểu hiện của thoát vị bẹn như thế nào?

Xuất hiện khối phồng vùng bẹn, thường bị bên phải nhiều hơn bên trái, khối này mềm, thường không đau, rõ hơn khi đứng, to lên khi rặn, ho, hắt hơi, khóc…(khi có sự tăng áp lực trong ổ bụng) và thường tự hết khi nằm nghỉ.

Một số ít các trường hợp thoát vị gây đau cấp, chướng bụng, nằm nghỉ cũng không đỡ…là thoát vị nghẹt. Trường hợp này cần tới viện sớm để can thiệp cấp cứu.

Nguyên nhân của thoát vị bẹn là gì?

  • Do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) gặp ở trẻ em hay.
  • Có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải) gặp ở người trưởng thành.

Ai có nguy cơ bị thoát vị bẹn?

  • Nam bị nhiều hơn nữ. Trẻ em do tồn tại ống phúc tinh mạc (cùng loạt bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc còn có: nang thừng tinh, dịch màng tinh hoàn).

    Sơ đồ: ống phúc tinh mạc (B), tinh hoàn (C), nang thừng tinh (A-cyst of cord), dịch màng tinh hoàn (D-hydrocele) và thoát vị bẹn (E-Inguinal hernia).

  • Những người có áp lực ổ bụng cao, thành bụng yếu:
    • Bí tiểu do bệnh phì đại tuyến tiền liệt (u xơ tiền liệt tuyến).
    • Táo bón thường xuyên.
    • Ho mãn tính.
    • Béo phì.

Khi nào thoát vị bẹn cần điều trị?

Khi thoát vị tự nó không tự khỏi được, khối thoát vị ngày càng to ra. Trong thực tế ít khi thoát vị bẹn tự khỏi được vì hàng ngày ruột, mạc nối chui vào lỗ thoát vị và làm thoát vị ngày càng lớn. Số ít khỏi được khi xảy ra ở trẻ chưa biết đi, do trẻ không ở tư thế đứng nên ruột và mạc nối không chui vào lỗ thoát vị để làm lỗ thoát vị ngày một to ra. Do vậy ở trẻ em nếu không có biến chứng nghẹt thì có thể theo dõi và chờ đợi tới khi trẻ biết đi mà thoát vị bẹn vẫn không tự khỏi thì phẫu thuật.

Khi nào thoát vị bẹn phải cấp cứu.

Là khi ruột, mạc nối mắc kẹt và nghẹt trong bao thoát vị. Do bị nghẹt, phần ruột, mạc nối nằm trong bao thoát vị bị thiếu máu nuôi dưỡng, để lâu có thể bị hoại tử đoạn ruột nghẹt. Biểu hiện bệnh nhân rất đau đớn. Khối phồng rất đau và không hết khi nằm nghỉ.

Phẫu thuật điều trị như thế nào?

Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị. Mục đích của phẫu thuật là làm mất đi điểm yếu trên thành bụng(khâu 2 bờ của lỗ thoát vị). Nhưng phương pháp này để lại sức căng của đường khâu cân cơ-tension repair) hoặc làm vững mạnh điểm yếu của thành bụng (tạo vạt che hoặc dùng “mảnh vá” surgical mesh- một lưới sợi tổng hợp) và không làm căng cân cơ thành bụng-tension free repair) điểm yếu của thành bụng.

    • Mổ mở:
      • Tension repair:
        • Phẫu thuật Bassini.
        • Phẫu thuật Shouldice
        • Phẫu thuật McVay
      • Tension-free repair
        • Đặt mesh tổng hợp (giống như tấm lưới sợi tổng hợp) làm vững mạnh hơn vị trí thành bụng yếu.
    • Mổ nội soi: Có thể đi trong hoặc ngoài phúc mạc qua đó đặt mesh tổng hợp che phủ điểm yếu của thành bụng ngoài phúc mạc.
    • Trẻ em: Thoát vị bẹn là do tồn tại ống phúc tinh mạc nên khi mổ chỉ cần rạch da 2-3 cm trên thành bụng, phẫu tích và thắt ống phúc tinh mạc ở lỗ bẹn sâu là đủ.

Ưu nhược điểm của phương pháp nội soi so với mổ mở:

  • Ưu điểm:
    • Hồi phục nhanh.
    • Ít đau sau mổ.
    • Ít biến chứng sau mổ: Nhiễm trùng, chảy máu.
    • Ít nguy cơ đau mãn tính sau mổ.
    • Không thêm sẹo khi phẫu thuật cả 2 bên.
  • Nhược điểm:
    • Thời gian phẫu thuật có thể lâu hơn(?). Trên thực tế, hiện tại phẫu thuật nội soi không lâu hơn phẫu thuật mở. Thậm chí còn nhanh hơn nhiều khi phẫu thuật cả hai bên vì không phải thêm đường rạch.

Phục hồi sau phẫu thuật.

Hầu hết bệnh nhân có thể trở lại với hoạt động bình thường sau 2-4 tuần.

Trong tuần đầu sau mổ cần chú ý với những hoạt động làm tăng áp lực ổ bụng, căng vết mổ như:

  • Đang nằm ngồi dậy, đang ngồi đứng dậy.
  • Ho.
  • Hắt hơi.
  • Khóc.
  • Bê mang vật nặng.
  • Nôn.

Một số hình ảnh phẫu thuật  điều trị thoát vị bẹn được chúng tôi thực hiện.

Bệnh nhân nam người lớn. Chẩn đoán trước mổ là thoát vị bẹn qua thăm khám lâm sàng và siêu âm. Phẫu thuật nội soi điều trị.

Mổ thoát vị bẹn nội soi

Mạc nối lớn chui vào lỗ thoát vị

Mạc nối lớn đã được kéo ra

Mở và tạo khoang trước phúc mạc để đặt surgical mesh

Mở và tạo khoang trước phúc mạc để đặt surgical mesh

Đặt mesh tổng hợp che phủ lỗ thoát vị

Phúc mạc thành bụng lại được khâu phục hồi lại che phủ tấm mesh tổng hợp và kết thúc quá trình phẫu thuật

“Mảnh vá” nhân tạo-Surgical mesh sử dụng trong phẫu thuật bẹn trước khi được sử dụng

Hình ảnh thành bụng sau khi mổ xong

 Bệnh nhân sẽ hầu như không thấy sẹo sau 4 tuần, và cũng chỉ với các đường rạch da như thế này có thể thực hiện phẫu thuật thoát vị 2 bên cùng lúc

Bệnh nhân khác, phẫu thuật mổ hở truyền thống

Thoát vị bẹn bên phải, khi nằm hầu như không thấy

Đường rạch da

Mở gân cơ chéo ngoài

Che phủ, biệt lập vùng mổ với da xung quanh

Bộc lộ cung đùi

Mở bao thoát vị, trong bao thoát vị là mạc nối lớn

Phẫu tích tách ống dẫn tinh và mạch tinh khỏi bao thoát vị

Sau khi cắt bỏ bao thoát vị, khâu kín cổ bao, surgical mesh được chuẩn bị sẵn sàng

Đường khâu da sau khi hoàn thành cuộc mổ

Một ca thoát vị bẹn nghẹt mổ mở

Bệnh nhân nam 91 tuổi với khối thoát vị lớn, đau kèm các triệu chứng tắc ruột

Phẫu thuật cấp cứu, mở

Trong bao thoát vị là manh tràng và khoảng 60cm hồi tràng

Phẫu thuật nang thừng tinh ở trẻ em 

Nang thừng tinh nhìn ngoài

Nang thừng tinh để nhìn ngoài rõ hơn

Bóc tách nang khỏi ống dẫn tinh, bó mạch tinh thắt ống phúc tinh mạc và cắt nang qua một đường rạch da 1cm trực tiếp trên nang

Kết thúc mổ với 1 mũi khâu da

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com

PS. Vừa qua có nhiều bạn nhắn tin hỏi về giá phẫu thuật cho thoát vị bẹn (TVB). Để tiện cho các bạn tham khảo, tôi xin được bàn về giá ở đây. Chi phí cho một ca phẫu thuật TVB rất thay đổi. Từ ít nhất trong khoảng 4-5 triệu đồng đến nhiều 20-30 triệu đồng tùy thuộc:

1. loại phẫu thuật ( nội soi với mổ mở truyền thống chênh 1-2 triệu);

2. Vật liệu làm “mảnh vá” (surgical mesh), kích cỡ (thường 500-1tr với có tráng film collagen, 3D…trên 3-4tr);

3. loại dịch vụ bệnh viện (tự túc ăn, người nhà phải ở lại chăm sóc với có xuất ăn, người nhà không phải ở lại chăm sóc),

4. tiền mổ (bv công 800 nghìn-1.6triệu-tự túc ăn, sinh hoạt với bv tư trên dưới 10-15triệu-được chăm sóc, ăn uống…);

5. loại thuốc gây mê, kháng sinh sử dụng, cách sử dụng thuốc của từng bác sỹ