Viêm ruột thừa

Tổng quan
Ruột thừa là một ống tịt, hình ngón tay hình thành từ đáy manh tràng,  ở phía dưới bên phải của bụng. Ruột thừa dường như không có một chức năng cụ thể.
Viêm ruột thừa thường gây đau ở vùng bụng dưới bên phải. Tuy nhiên, ở hầu hết mọi người, đau bắt đầu ở rốn và sau đó mới khu trú ở bên phải. Khi viêm muộn hơn,  đau thường tăng lên và cuối cùng trở nên trầm trọng.
Mặc dù bất cứ ai cũng có thể bị viêm ruột thừa, nhưng viêm ruột thừa thường xảy ra ở độ tuổi từ 10 đến 30. Điều trị tiêu chuẩn là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa.
Triệu chứng
Dấu hiệu và triệu chứng của viêm ruột thừa có thể bao gồm:
  • Đau bên phải của vùng bụng dưới. 
  • Đau bắt đầu quanh rốn và chuyển sang bụng dưới bên phải. 
  • Đau tăng khi ho, đi bộ hoặc những vận động khác
  • Buồn nôn,  nôn. 
  • Ăn mất ngon
  • Sốt nhẹ và tăng dần khi bệnh tiến triển
  • Táo bón hoặc tiêu chảy
  • Chướng bụng. 

Điểm đau có thể khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi và vị trí của ruột thừa. Khi đang mang thai, đau có thể xuất hiện từ bụng trên vì ruột thừa bị đẩy cao hơn trong thời kỳ mang thai.

Khi nào đến gặp bác sĩ

Gặp bác sĩ nếu có các dấu hiệu hoặc triệu chứng như trên không giảm, hoặc hết sau vài giờ. Đau bụng dữ dội đòi hỏi sự chăm sóc y tế ngay lập tức. 

Nguyên nhân viêm ruột thừa. 
Sự tắc nghẽn trong lòng của ruột thừa dẫn đến nhiễm nhiễm khuẩn, sau đó là viêm ruột thừa. Các vi khuẩn nhân lên nhanh chóng làm ruột thừa sưng lên và đầy mủ. Nếu không điều trị kịp thời, ruột thừa có thể vỡ.
Biến chứng
Viêm ruột thừa có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, như:
  • Ruột thừa vỡ. Làm mủ lan truyền khắp ổ bụng (viêm phúc mạc). Có khả năng đe dọa đến mạng sống, tình trạng này đòi hỏi phải phẫu thuật ngay để lấy ruột thừa và làm sạch khoang bụng.
  • Áp xe.  Là khi ruôt thừa vỡ ra nhưng mủ được ruột quanh đó bọc lại. Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ phẫu thuật tháo mủ ra ngoài bằng cách đặt ống thông qua thành bụng vào áp xe. Ống này được lưu lại vào ngày và bệnh nhân được cho thuốc kháng sinh để làm sạch nhiễm trùng. Khi nhiễm trùng đã sạch, bạn sẽ phải phẫu thuật để loại bỏ ruột thừa. Trong một số trường hợp, áp xe được tháo mủ, và ruột thừa được loại bỏ ngay lập tức.
Advertisements

Mục lục

Những điều cần biết

Hướng dẫn khám bệnh

Phẫu thật nội soi

Thoát vị

Bệnh trĩ

Y học

Ung bướu

Tắc ruột

My photos1

My photos2

Phẫu thuật nội soi điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay

Bạn bị tăng tiết mồ hôi tay ở mức độ nào? Bảng dưới đây lượng hóa mức độ tiết mồ hôi của bàn tay.

lossless-page1-876px-Visual_scale_for_the_quantification_of_hyperidrosis.tif

Có một số cách để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi, có thể kể ra như sau:

KHÔNG PHẫU THUẬT: chi tiết tại đây

  • Thuốc chống mồ hôi (ví dụ như Zirconium nhôm, Tetrachlorohydrex Glycine): ưu điểm: an toàn, rẻ tiền, sẵn có, dễ sử dụng. Nhược điểm: phải sử dụng hàng ngày, tác dụng ngắn, có thể có kích ứng da.
  • Điện ion. Nhược điểm: Cần thiết bị, dùng theo chu kỳ 2-3  lần/tuần, kích thích khó chịu khi thực hiện, tác dụng ngắn ngày.
  • Các thuốc anticholinergic. Nhược điểm: phải dùng hàng ngày, chịu tác dụng phụ của thuốc.
  • Liệu pháp tâm lý.
  • Tiêm botulinum bàn tay: nhược điểm: đau đớn, khá đắt tiền, tác dụng kéo dài khoảng 6 tháng, có thể nhược, liệt cơ.
  • Tiêm cồn diệt hạch giao cảm ngực: Tác dụng không chắc chắn, tái phát.

PHẪU THUẬT:  là cắt bỏ, đốt điện hoặc sử dụng các clip phẫu thuật kẹp cắt hạch giao cảm ngực giữa T2 và T4 hoặc T5.

Sự ra đời của phẫu thuật diệt hạch giao cảm bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX. Ca phẫu thuật đầu tiên trong lịch sử được Alexander mô tả năm 1889, để điều trị một bệnh nhân động kinh. Năm 1920, Kotzareff là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật diệt hạch giao cảm để điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi tay.

Năm 1942, Hughes công bố phương pháp phẫu thuật nội soi ngực điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi.

CHÚNG TÔI PHẪU THUẬT NHƯ THẾ NÀO? chúng tôi thực hiện phẫu thuật nội soi ngực đốt hoặc cắt hạch giao cảm, được thực hiện thường quy dưới gây mê toàn thân. Cụ thể phẫu thuật thực hiện với 2-3 đường rạch da nhỏ 0.5cm ở hai bên thành ngực dưới hõm nách để không nhìn thấy sẹo. Đảm bảo tốt nhất về mặt thẩm mỹ. Hạch giao cảm ngực được che phủ bởi lớp mỏng của màng phổi trong suốt, do vậy có thể thấy dễ dàng dưới camera nội soi. Sau đó phẫu thuật viên sử dụng móc điện đốt và cắt các hạch giao cảm từ đốt sống ngực thứ 2 đến sống ngực thứ 3 (thuật ngữ chuyên môn gọi là T2–>T3) cho các bệnh nhân tăng tiết mồ hôi ở bàn tay; T2-T4  cho những bệnh nhân có tình trạng tăng tiết mồ hôi ở nách.

Phẫu thuật nội soi ngực điều trị chứng  tăng tiết mồ hôi đã cho kết quả vượt trội: Có kết quả tức thì, phẫu thuật một lần cho tác dụng lâu dài, thẩm mỹ, an toàn và thời gian nằm viện chỉ 1 ngày.

Nhiều bệnh nhân đến với chúng tôi sau hàng chục năm phải mang những khó chịu của đôi bàn tay ướt đã trải qua rất nhiều các phương pháp điều trị khác không kết quả, đã khỏi bệnh ngay sau phẫu thuật và hoàn toàn hài lòng khi chấp nhận một khó chịu nho nhỏ là ra mồ hôi bù trừ ở vị trí khác của cơ thể.

Tuy vậy, đây là phương pháp điều trị hiện đại, chỉ thực hiện được ở cơ sở phẫu thuật, đòi hỏi về kỹ thuật và chi phí cao.

Một số hình ảnh.

DSCF6119
Từng giọt mồ hôi li ti lớn dần trên khắp bàn tay
DSCF6121
Bàn tay sũng mồ hôi sau 2 phút

Từ khóa:

chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay.

Tham khảo

Thoracic sympathectomy for hyperhidrosis: from surgical indications to clinical results https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5392541/pdf/jtd-09-S3-S178.pdf

Thoracoscopic (VATS) Sympathectomy for Hyperhidrosis https://med.stanford.edu/ctsurgery/clinical-care/thoracic-surgery-services/thorascopic-vats-sympathectomy-hyperhidrosis.html

Endoscopic thoracic sympathectomy https://medlineplus.gov/ency/article/007291.htm

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

Phẫu thuật robot/phẫu thuật nội soi robot hỗ trợ (Robotic-assisted laparoscopy)

I. Lịch sử phát triển robot phẫu thuật

  • Thuật ngữ robot lần đầu tiên đước sử dụng bởi kịch gia người Czech, Karel Capek năm 1921 trong vở kịch Rossom’s Universal Robots của ông. Nó xuất phát từ chữ robota có nghĩa là lao động cưỡng bức.
  • Robot phẫu thuật đầu tiên trên thế giới là “Arthrobot” sử dụng tại Vancouver, Canada vào năm 1983.
  • Năm 1985, robot PUMA 560, thực hiện sinh thiết não dưới hướng dẫn CT.
  • Năm 1988, robot PROBOT tại Imperial College London, đã thực hiện phẫu thuật tuyến tiền liệt.
  • Năm 1992, robot ROBODOC của tập đoàn Intergrated đã thực hiện mài xương đùi một cách chính xác trong phẫu thuật thay khớp háng.
  • Sự hợp nhất 2 công ty Intuitive Surgical (thành lập 1995, sản phẩm là robot Mona và Leonardo) với Computer Motion (công ty đã tạo ra các robot phẫu thuậtAESOP điều khiển bằng giọng nói và ZEUS phẫu thuật từ xa) làm cho ngành công nghiệp chế tạo robot phẫu thuật phát triển lên một tầm mới, tạo ra hệ thống robot phẫu thuật da Vinci.

II. Cách thức hoạt động của Robot phẫu thuật ngày nay.

Robot có 3 phần riêng biệt nhưng kết nối với nhau:

Sơ đồ hệ thống:figure01

  1. Vision cart bao gồm camera nội soi, máy quay, máy tính-bộ vi xử lý-não robot và các thiết bị khác để tạo ra một hình ảnh 3D của các hoạt động.Carro-Vision
  2. Tháp robot (the tower, patient cart) đó là cấu phần robot trực tiếp phẫu thuật trên bệnh nhân. Nó có các cánh tay robot (4 tay), 3 trong số đó có thể giữ các dụng cụ phẫu thuật khác nhau, và một giữ camera 3D. Những cánh tay này được điều khiển bởi một máy tính có khả năng xử lý tái tạo* chính xác các động tác của tay phẫu thuật viên mổ. Các dụng cụ phẫu thuật có khớp được kết nối với cánh tay của robot và đưa vào trong cơ thể người bệnh qua một ống nhỏ gọi là cannule. Hoạt động tay của phẫu thuật viên được máy tính thu nhỏ (scaled) và lọc (filtered) để loại bỏ các rung động do sự run tay sau đó sẽ chuyển thành các vi chuyển động tương ứng của dụng cụ phẫu thuật. Đồng thời camera cho những hình ảnh 3D trung thực tới giao diện điều khiển của phẫu thuật viên. Tỷ lệ thu nhỏ có thể điều chỉnh được ví dụ khi ta chọn tỷ lệ 3:1 thì khi tay phẫu thuật viên di chuyển 6cm thì dụng cụ của robot di chuyển một cách chính xác và tương ứng 2cm.daVinci_oblique_thumb
  3. Buồng điều khiển (the console) là nơi bác sĩ phẫu thuật ngồi điều khiển robot thông qua màn hình 3D phóng đại và có độ nét cao. Các bác sĩ phẫu thuật điều khiển bốn cánh tay của robot bằng các hoạt động tinh tế của ngón tay thông qua hai điều khiển thông minh.

davinci_si_console

Bác sĩ phẫu thuật cũng điều khiển bằng các bàn đạp ở 2 chân để chọn các tùy chọn bổ sung như khả năng chuyển đổi giữa hai nguồn năng lượng khác nhau; chọn điều khiển cánh tay dụng cụ thứ 3, điều chỉnh âm thanh, hình ảnh. Một  màn hình 2D bổ sung liên kết phần còn lại của nhóm phẫu thuật sẽ nhìn thấy những gì phẫu thuật viên đang làm.

III. Những thành tựu phẫu thuật bằng robot

  • Năm 1997khâu nối ống dẫn trứng được thực hiện thành công ở Cleveland sử dụng hệ thống robot ZEUS.
  • Tháng 5 năm 1998, Friedrich-Wilhelm Mohr sử dụng robot Da Vinci hỗ trợ thực hiện phẫu thuật bypass tim tại Trung tâm Tim Leipzig ở Đức.
  • Ngày 02 Tháng chín 1999, Randall Wolf và Robert Michler thực hiện bypass tim đầu tiên với hỗ trợ robot tại Đại học bang Ohio, Mỹ.
  • Tháng 10 năm 1999, Douglas Boyd và Reiza Rayman sử dụngrobot ZEUS phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không ngừng tim ở Canada.
  • Ngày 7 Tháng Chín 2001, Jacques Marescaux và Michel Gagner, ở New York, sử dụng hệ thống robot Zeus để thực hiện phẫu thuật từ xa cắt bỏ túi mật một bệnh nhân nữ 68 tuổi, ở Strasbourg, Pháp.
  • Tháng 5 năm 2006, robot không người điều khiển đầu tiên được giới thiệu tại Italia.
  • Tháng 2 năm 2008, Mohan Gundeti của Đại học Comer Chicago thực hiện phẫu thuật trên một bé gái 10 tuổi.
  • Tháng 1 năm 2009, Stuart Geffner ghép thận sử dụng robot hoàn toàn tại Trung tâm Y tế Barnabas Saint ở Livingston, New Jersey.
  • Hiện tại phẫu thuật robot dần thay thế phẫu thuật nội soi và cả phẫu thuật mở trước đây không thể hoặc khó có thể thực hiện được bằng nội soi. Phẫu thuật robot được phát triển và áp dụng rộng rãi ở các chuyên ngành và thực hiện các phẫu thuật trước đây là không tưởng.

IV. Khả năng áp dụng.

  • Nhi khoa: Trên 50 loại phẫu thuật Nhi ở ổ bụng và lồng ngực đã được áp dụng robot phẫu thuật cho kết quả hoàn hảo, đặc biệt hữu dụng trong phẫu thuật nang ống mật chủ, Kasai-cho teo đường mật, cắt u trong lồng ngực và cả các phẫu thuật tái tạo. Hạn chế lớn nhất của phẫu thuật robot trong nhi khoa là kích thước dụng cụ.
  • Phụ khoa: Hữu dụng trong cắt tử cung điều trị cả u lành và ác tính; khâu nối ống dẫn trứng, bóc nhân xơ, phục hồi sàn chậu.
  • Trong phẫu thuật ổ bụng:
    • Phẫu thuật robot rất thích hợp với các phẫu thuật giới hạn ở ¼ ổ bụng, đòi hỏi phẫu tích chính xác, đường khâu nhỏ, tinh tế, miệng nối bé.
    • Các báo cáo thấy rằng với phẫu thuật đơn giản như cắt túi mật, ruột thừa mà so sách giữa robot và nội soi thường quy thì phẫu thuật robot không cho kết quả tốt hơn, không an toàn hơn ngoài việc dễ dàng hơn nhưng đắt hơn.
    • Với các phẫu thuật khó, đòi hỏi phẫu tích chính xác, đường khâu nhỏ tinh tế thì phẫu thuật robot vượt trội như: mở cơ thắt thực quản-Phẫu thuật Heller; phẫu thuật điều trị thoát vị cạnh thực quản; cắt dạ dày, đại tràng ung thư nạo vét hạch; cắt thực quản qua lỗ hoành; cắt đuôi tụy bảo tồn lách, cắt khối tá tụy.
    • Mặc dù cắt túi mật, ruột thừa, khâu phình vị dạ dày tạo van chống trào ngược đắt hơn với phẫu thuật robot, không mang lại lợi ích cho người bệnh nhưng là cơ hội tốt cho các phẫu thuật viên mới phẫu thuật trên robot.
  • Phẫu thuật tiết niệu: Phẫu thuật robot cho thấy kết quả vượt trội trong cắt tuyến tiền liệt với con số ngoạn mục 0%/năm 2000 thành 83%/năm 2011. Phẫu thuật robot cũng đặc biệt thích hợp trong ghép thận, tạo hình bể thận, cắm lại niệu quản-bàng quang.
  • Phẫu thuật lồng ngực: Ưu thế với các khối u đặc đỉnh phổi, u thực quản.
  • Phẫu thuật tai mũi họng: Cắt tuyến giáp không sẹo qua đường miệng.

V. Lợi ích của phẫu thuật robot:

  • Cung cấp khả năng chẩn đoán và điều trị phẫu thuật ít xâm lấn, chính xác. Do vậy an toàn, ít đau đớn, giảm sang chấn, rút ngắn thời gian nằm viện và tăng tính thẩm mỹ mang lại sự thoải mái cho người bệnh.
  • Khả năng phẫu thuật từ xa, người bệnh có thể được phẫu thuật bởi các chuyên gia hàng đầu thế giới mà không cần di chuyển hoặc tình trạng bệnh không thể di chuyển.
  • Có thể phẫu thuật tại các môi trường nguy hiểm mà không hoặc ít bị phơi nhiễm nguy cơ (phẫu thuật đồng thời có chiếu tia Xquang, chiếu xạ, chiến trường…)
  • Thời gian học mổ rút ngắn và dễ hơn: Ngắn do phẫu thuật viên đã được đào tạo chuyên phẫu thuật, thậm chí đã thuần thục với phẫu thuật nội soi. Dễ hơn do hình ảnh phẫu thuật 3D, độ phân giải cao và phóng đại 10 lần, đồng thời thao tác dụng cụ robot mô phỏng chính xác và thuận chiều với hoạt động tay của phẫu thuật viên.
  • Mở rộng khả năng: Với phẫu thuật nội soi quy ước, phẫu thuật viên chỉ có thể điều khiển 2 dụng cụ hoặc một dụng cụ và camera do vậy luôn cần ít nhất 1 phụ mổ giữ camera và/hoặc dụng cụ và có thể có sự không ăn ý giữa phẫu thuật viên và phụ mổ. Với phẫu thuật robot, phẫu thuật viên có thể điều khiển 4 cánh tay robot mang 1 camera và 3 dụng cụ, có thể đáp ứng hầu hết các loại phẫu thuật mà không cần phụ mổ. Giảm người lao động trong tương lai.
  • Trả lại sự linh hoạt, khéo léo cho đôi bàn tay phẫu thuật viện: Với phẫu thuật nội soi quy ước, sự linh hoạt của đôi bàn tay phẫu thuật viên bị hạn chế khi thao tác từ ngoài thông qua một dụng cụ cứng thẳng hoặc cong khi đi xuyên qua một điểm trên thành bụng người bệnh đưa đến hiện tượng:
    • Ngược chiều: muốn đưa dụng cụ lên cao thì phẫu thuật viên phải hạ tay xuống thấp, muốn đưa dụng cụ qua trái thì tay phẫu thuật viên di chuyển qua phải và ngược lại.
    • Hạn chế thao tác: Sự linh hoạt bàn tay của phẫu thuật viên bị hạn chế chỉ còn các chuyển động tới-lui, lên-xuống, phải-trái và xoay. Do đó nhiều khi rất khó trong việc phẫu tích, khâu, cắt theo mong muốn. Ví dụ: Kéo nội soi dễ dàng cắt một đường dọc theo hướng của thân kéo nhưng sẽ rất khó thực hiện một đường cắt ngang. Để cắt một đường cắt ngang thì hoặc phải đổi dụng cụ, hoán đổi vị trí đặt dụng cụ hoặc phải xoay tạng muốn cắt một góc 90 độ nếu có thể.
    • Với phẫu thuật robot, sự linh hoạt của ngón và cổ tay của phẫu thuật viên không những được tái lập đầy đủ, chính xác, thuận chiều thông qua máy tính và các dụng cụ phẫu thuật đa khớp mà bộ lọc máy tính còn giúp robot “phớt lờ” các rung động do sự run tay của phẫu thuật viên. Điều này, như một phẫu thuật viên đã ví “It’s as if I’ve miniaturized my body and gone inside the patient.”(có thể thu nhỏ người lại và chui vào trong bệnh nhân để phẫu thuật)
  • Thoải mái: Buồng điều khiển được thiết kế có thể điều chỉnh phù hợp với tầm vóc của phẫu thuật viên, tỷ lệ biên độ di chuyển tay phẫu thuật viên và tay robot. Có thể “định nghĩa lại vị trí” để thích hợp vị trí không gian do đó phẫu thuật viên không bao giờ phải vươn tay, vặn người để phẫu thuật trong nhiều giờ như phẫu thuật nội soi quy ước khi phải thao tác ở sâu  và trái tay. Do vậy giảm giảm căng thẳng và mệt mỏi không đáng có.
  • Nâng tầm thương hiệu bệnh viện. Tại Việt nam, mới có một bệnh viện duy nhất có robot phẫu thuật. Khi phẫu thuật robot từ xa phát triển (2001, Jacques Marescaux và Michel Gagner, ở New York, thực hiện phẫu thuật từ xa cắt bỏ túi mật một bệnh nhân ở Strasbourg, Pháp) robot phẫu thuật là phương tiện liên kết giữa bệnh nhân và phẫu thuật viên; giữa các bệnh viện trên toàn thế giới, không còn khoảng cách địa lý.
  • Cạnh tranh: phẫu thuật robot là xu thế phát triển của phẫu thuật: Trong hơn 10 năm qua riêng hệ thống robot da Vinci đã thực hiện trên 1.5 triệu phẫu thuật, với các con số tăng trưởng đột biến.
Loại phẫu thuật cắt tử cung 2000 2005 2011
Mổ mở 65% 62% 36%
Mổ ít xâm lấn 35% 38% 37%
Mổ robot 0% 0% 27%

 

Cắt tuyến tiền liệt 2000 2005 2011
Mổ mở và nội soi 100% 77% 17%
Mổ robot 0% 23% 83%

Với các con số ấn tượng đó các bệnh viện sẽ trang bị robot để tạo áp lực cạnh tranh.

  • Xu hướng: Khi phẫu thuật mở đã “lạc hậu” bị lấn lươt và thay thế bởi phẫu thuật nội soi. Khi phẫu thuật nội soi đã trở nên “bão hòa” cả về số lượng, phân bố cũng như phát triển kỹ thuật thì phẫu thuật robot đang là một tiếp cận mới với đầy triển vọng phát triển.
  • Trung tâm đào tạo trong nước, khu vực: Là điều có thể với hình thức đào tạo tại chỗ và liên kết đào tạo từ xa. Phục vụ nhu cầu đào tạo tại chỗ, tự đào tạo nguồn nhân lực khi lứa phẫu thuật viên tiên phong được đào tạo trở về.

VI. Những nhược điểm và trở ngại trong triển khai phẫu thuật robot tại Việt nam

  • Phẫu thuật robot vẫn là các cuộc mổ xẻ, vẫn dung các phương tiện cắt-nối truyền thống: dao, kéo, kim chỉ khâu, buộc…và con người điều khiển do vậy mang đầy đủ những nguy cơ rủi ro của các cuộc phẫu thuật và sai lầm của phẫu thuật viên.
  • Giá thành: một hệ thốngphẫu thuậtrobotcó giá hàng triệu USD và hàng trăm nghìn USD một nămbảoduy trì (hiện tại 150.000) với chi phí vật tư tiêu hao đắt đỏ mà khó có thể chờ các hãng giảm giá (họ thường cải tiến, nâng cấp để tăng hoặc giữ giá và có rất ít hãng sản xuất robot do đó họ có quyền định giá).
  • Không có cảm giác tay khi phẫu thuật: Với phẫu thuật robot, phẫu thuật viên hoàn toàn làm việc bằng hình ảnh, không thể sờ nắn cảm giác mô định cắt bỏ trước khi đưa ra quyết định. Nhược điểm này đang được khắc phục để đưa vào cảm giác tay cho phẫu thuật viên.
  • Kích thước của dụng cụ lớn còn lớn đặc biệt trong phẫu thuật nhi khoa. Nghiên cứu hiện tại với dụng cụ hiện tại cần khoảng cách mũi ức-xương mu >15cm và liên gai chậu trước trên >13cm.
  • Bị giới hạn ở một trường phẫu thuật: Robot phẫu thuật phát huy tác dụng tốt khi phẫu thuật đó giới hạn trên một trường mổ hẹp nhưng lại bị hạn chế nếu phẫu thuật đó cần thao tác trên một khoảng không gian rộng vì các xung đột của dụng cụ (collisions).
  • Sự trễ thời gian (latency) đó là hành động của robot chậm hơn với hành động của phẫu thuật viên. Điều này là trở ngại lớn nhất hiện nay với phẫu thuật từ xa. Khó khăn nhất là đường truyền tín hiệu cần đảm bảo an toàn, tốc độ cao và tin cậy. Các nghiên cứu cho thấy: nếu trễ 150-200 milli giây thì có thể nguy hiểm, sự trễ của tín hiệu vệ tinh là 600milli giây. Dự án phẫu thuật Lindbergh, Jacques Marescaux từ New york cắt túi mật cho bệnh nhân ở Paris năm 2001 với khoảng cách 7000km đã sử dụng đường truyền quang fiberopticATM của France Telecom với tốc độ cỡ 10 Gbit/s và khoảng trễ thời gian chấp nhận được là 135 milli giây.
  • Sự lỗi của phần mềm máy tính.
  • Đội ngũ phẫu thuật viên, dụng cụ viên sẵn có cần được đào tạo.
  • Giá thành phẫu thuật cao và không có bệnh nhân sẵn sàng chi trả phí phẫu thuật.
  • Cần phòng mổ tương thích.
DSCF6127
Docking dụng cụ

Robot lặp các động tác phẫu thuật từ tay người thuật viên

Tham khảo:

http://intuitivesurgical.com

http://allaboutroboticsurgery.com

A Consensus Document on Robotic Surgery Prepared by the SAGES-MIRA Robotic Surgery Consensus Group

Nguồn hình ảnh:

http://intuitivesurgical.com

Key words: Phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot, phẫu thuật robot.

  • Bs Nguyễn Ngọc Khánh
  • Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi
  • Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!
  • GM: nnkhanh72@gmail.com

 

Chứng tăng tiết mồ hôi cục bộ (ra mồ hôi tay)

  1. Tăng tiết mồ hôi là gì? (hyperhidrosis) là tình trạng tiết mồ hôi vượt quá mức cần thiết cho sự điều hòa thân nhiệt của cơ thể.
  2. Vì sao có mồ hôi?
  • Tiết mồ hôi liên quan đến việc điều nhiệt, giữ ẩm da và cân bằng nước-điện giải.
  • Mồ hôi do các tuyến tiết ra, cấu trúc của tuyến mồ hôi gồm có hai phần.
  • Phần cuộn thành 1 khối hình cầu, bên trong có mao mạch xen lẫn những nhánh dây thần kinh thực vật, nằm sâu ở lớp bì của da.
  • Phần ống tiết gồm 2 đoạn: đoạn trung gian thẳng và đoạn xoắn ốc xuyên qua lớp sừng mở ra mặt da bằng lỗ tiết để đào thải mồ hôi ra ngoài.
  • Các tuyến mồ hôi được chi phối bởi sợi cholinergic của hệ thần kinh giao cảm. Có chức năng điều hòa thân nhiệt – mà tốc độ bài tiết chịu ảnh hưởng của các kích thích xúc cảm và vị giác. Toàn bộ tuyến mồ hôi của cơ thể mỗi ngày có thể tiết ra 500-700 ml dịch, tùy thuộc vào thời tiết, trạng thái hoạt động hay nghỉ ngơi…
  • Có đến 3-5 triệu tuyến mồ hôi chia thành 3 loại ở người là: eccrine, apocrine, và tuyến apoeccrine.
  • Tuyến eccrine (Ngoại tiết)eccrine-sweat-glands-2
    • Khoảng 3 triệu là tuyến nằm ở hầu khắp cơ thể, nhưng nhiều nhất ở bàn tay, bàn chân, da đầu. Ở thân và chi thể ít hơn rất nhiều.
    • Chất tiết vô khuẩn, hòa tan các điện giải bicarbonate, K+, NaCl và nhưng chất khác như: Glucose, pyruvate, lactate, cytokines…
    • Chức năng chủ yếu là điều nhiệt dựa vào sự bay hơi của nước.
    • Tiết mồ hôi ở mặt, ngực, lưng chủ yếu do kích thích của nhiệt độ, trong khi đó ở lòng bàn tay, bàn chân lại do kích thích của trạng thái tâm lý.
    • Tiết mồ hôi do nhiệt độ có thể suốt ngày đêm, nhưng tiết mồ hôi do yếu tố tâm lý(lòng bàn tay, bàn chân sẽ ngừng khi ngủ).
    • Tuyến này được chi phối bởi hệ thần kinh giao cảm (TKGC) nhưng sử dụng acetylcholine là trung gian dẫn truyền. Điều khiển tiết mồ hôi do kích thích nhiệt và cảm xúc nằm ở những vùng khác nhau trên não: Nhiệt là vùng dưới đồi trong khi cảm xúc là vỏ não. Các tín hiệu giao cảm đến tuyến nội tiết qua các neuron cholinergic. Ở BN tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát các tuyến mồ hôi bình thường cả về phương diện tế bào học và chức năng. Bệnh sinh tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát là sự đáp ứng quá mức của thần kinh trung ương với kích thích cảm xúc bình thường.
  • Tuyến apocrine (tuyến dầu)main-qimg-228d4e6e89406a6dcbad3b8e3aa96ec0
    • Nằm ở vùng gianh giới giữa da và mỡ dưới da. Chất tiết đổ vào phần phễu của nang lông.
    • Ở người tuyến phân bổ chủ yếu ở nách, quầng-núm vú, ống tai, mi mắt, cánh mũi, tầng sinh môn, một vài vùng của cơ quan sinh dục ngoài. Các tuyến apocrine đặc biệt gồm: tuyến ciliary glands ở mí mắt; ceruminous glands ở ống tai và tuyến vú.
    • Bắt đầu tăng tiết từ tuổi dậy thì, hoạt động mạnh trong độ tuổi sinh đẻ, giảm tiết khi về già.
    • Ở động vật có vú, nó có hai chức năng: Thứ nhất, tạo ra mùi để xua đuổi các loài khác; Thứ hai, tiết ra các mùi đặc biệt để hấp dẫn bạn tình.
    • Các vi khuẩn hoạt động trên bề mặt da phân huỷ các acid béo tạo ra mùi.
    • Các tuyến mồ hôi loại này không có liên hệ đến tăng tiết mồ hôi khu trú và chức năng của chúng được điều hòa bởi nội tiết.
  • Apo-eccrine tuyến mồ hôi hỗn hợp gọi là tuyến đầu-ngoại tiết (apo-eccrine glands), chủ yếu được tìm thấy ở nách và vùng quanh hậu môn. Vai trò của chúng trong sinh lý bệnh của tăng tiết mồ hôi khu trú hiện chưa rõ, dù vậy trên một số người, chúng chiếm đến 45% số tuyến mồ hôi được tìm thấy trong vùng nách.

3. Nhiều người bị chứng tăng tiết mồ hôi không?

  • Không có con số chính thức cho Việt nam, nhưng Mỹ khoảng 8 triệu người mắc chứng bệnh này 0.6-1%. Nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 46.5% vs 28.6%.
  • Nhật tỷ lệ mắc nhiều gấp 20 lần các chủng tộc khác.
  • Bệnh bắt đầu từ khi còn là trẻ em hoặc thanh thiếu niên. Bất kỳ vị trí nào trên cơ thể có thể bị ảnh hưởng nhưng các vùng ảnh hưởng phổ biến nhất là lòng bàn tay, lòng bàn chân và nách; thứ đến là mặt, da đầu, bẹn, dưới và vùng liên vú.
  • Tăng tiết mồ hôi có thể tiên phát hoặc thứ phát sau các bệnh khác, rối loạn chuyển hóa, sốt, hoặc sử dụng thuốc.
  1. Khi nào cần khám bác sỹ?

Đôi khi tăng tiết mồ hôi là dấu hiệu của một bệnh khác. Bạn nên khám bác sỹ khi:

  • Làm gián đoạn, ảnh hưởng đến công việc, hoạt động thường ngày.
  • Làm ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất, cũng như giao tiếp xã hội.
  • Đột nhiên tăng tiết mồ hôi một cách bất thường.
  • Ra mồ hôi ban đêm không rõ nguyên nhân.
  1. Nguyên nhân tăng tiết mồ hôi ngoài sinh lý bình thường là gì?
  • Thứ nhất là chứng tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát là sự đáp ứng quá mức của thần kinh trung ương với kích thích cảm xúc bình thường. Thường không có lý do về sử dụng thuốc, nhưng có thể có yếu tố gia đình.
  • Thứ 2 là tăng tiết mồ hôi thứ phát, liên quan đến dùng thuốc, thường ra toàn thân, liên quan đến một số tình trạng hoặc bệnh lý sau:
    • Tiểu đường
    • Mãn kinh.
    • Bệnh tuyến giáp
    • Hạ đường huyết.
    • Ung thư.
    • Nhồi máu cơ tim
    • Nhiễm khuẩn.
  1. Các tiêu chuẩn chuẩn đoán tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát như thế nào?
  • Cục bộ từng khu vực.
  • Có thể nhìn thấy,
  • Thời gian ít nhất là 6 tháng,
  • Không có nguyên nhân rõ ràng
  • và có ít nhất hai trong số những đặc điểm sau đây:
    • Hai bên và tương đối đối xứng.
    • Làm ảnh hưởng hoạt động hàng ngày.
    • Tần số ít nhất một lần mỗi tuần.
    • Tuổi khởi phát dưới 25 năm.
    • Có tiền sử gia đình.
    • Ngừng ra mồ hôi trong khi ngủ.
  1. Các biểu hiện của chứng tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát?
  • Tuổi bắt đầu rất trẻ kéo dài suốt đời.
  • Vùng ảnh hưởng phổ biến nhất là lòng bàn tay, lòng bàn chân và nách. Thứ đến là da đầu, mặt và các vùng khác.
  • Tăng lên khi nóng, cảm xúc.
  • Người ra mồ hôi nách thường than phiền về sự ẩm ướt ở hai hõm nách và áo bị ố do mồ hôi.
  • Người ra mồ hôi tay sẽ ngại khi phải bắt tay, gặp khó khăn khi viết, những công việc đòi hỏi sự khô ráo ở hai bàn tay.
  • Hay bị các bệnh da khác: Viêm da, nấm, eczema…
  1. Điều trị bệnh như thế nào?
  • Nguyên tắc là: nếu tăng tiết mồ hôi thứ phát có nguyên nhân, cần điều trị nguyên nhân đó trước nhất. Nếu nguyên phát không thấy nguyên nhân thì việc điều trị tập trung và việc khống chế tăng tiết mồ hôi.
  • Ở bài viết này chỉ nói về việc điều trị chứng tăng tiết mồ hôi cục bộ tiên phát. Lựa chọn đúng phương pháp điều trị bắt đầu với việc đánh giá:
    • Vị trí tăng tiết mồ hôi: Nách, bàn tay, bàn chân, da đầu.
    • Những yếu tố khác:
      • Kết quả mong muốn của người bệnh.
      • Độ an toàn.
      • Mức độ trầm trọng của bệnh.
      • Giá thành.
      • Khả năng cung cấp dịch vụ của cơ sở y tế.

a. Thuốc:

  • Chống mồ hôi tại chỗ muối nhôm aluminum chloride hexahydrate) (Drysol, Xerac Ac). Đơn giản, sẵn có, rẻ tiền và an toàn. Cơ chế tác dụng là làm tắc ống bài xuất. Thích hợp cho bệnh nhẹ.
    • Nên dùng vào đêm, rửa sạch vào buổi sáng.
    • Tác dụng đạt được tốt nhất sau 1 tuần.
    • Khoảng cách lặp điều chỉnh thích hợp sau khi đạt kết quả tốt nhất.
    • Để duy trì kết quả, thường là 1 lần/tuần.
    • Với trường hợp ra nhiều mồ hôi, cách này kém hiệu quả, có thể có kích ứng da.
  • Kem bôi chứa glycopyrrolate giúp chống tăng tiết mồ hôi ở đầu, mặt.
  • Thuốc ức chế thần kinh (nhóm anticholinergic). Một vài thuốc nhóm này có tác dụng giảm tiết mồ hôi nhưng có thể có vài tác dụng phụ khác như: khô miệng, nhìn mờ, bí tiểu.
  • Chống trầm cảm (Antidepressants). Một số loại thuốc dùng cho trầm cảm cũng có thể làm giảm mồ hôi, giảm sự lo lắng.
  • Tiêm botulinum toxin (Botulinum toxin injections) định kỳ vào da bị ảnh hưởng khi không đáp ứng với các lựa chọn trên. Là một phương pháp an toàn và hiệu quả để cải thiện tình trạng tăng tiết mồ hôi. Tuy nhiên, điều trị có thể là đau đớn và tốn kém. Botulinum toxin ngăn chặn sự giải phóng acetylcholine tại các tiền synap do vậy có thể tạm thời (6-12 tháng) làm giảm sản xuất mồ hôi. Tuy nhiên phương pháp này đau đớn và có thể làm yếu cơ tại vùng tiêm.
    • Mặc dù có nhiều loại nhưng onabotulinumtoxinA hoặc abobotulinumtoxinA hay được sử dụng
    • Liều 1 đơn vị onabotulinumtoxinA tương đương 3 đơn vị abobotulinumtoxinA
    • Đau là một vvaans đè trong loại điều trị này. Thuốc giảm đau tại chỗ, xịt lạnh, túi đá…có thể áp dụng.

b. Vi sóng nhiệt phân (Microwave therapy):

Dùng năng lượng vi sóng để tiêu hủy các tuyến mồ hôi. Điều trị có thể có vài tác dụng phụ như thay đổi cảm giác và khó chị tại vụng tác dụng sóng. Sản phẩm thương mại đã được công nhận bởi FDA. Giá thành và sự không sẵn có giới hạn việc áp dụng phương pháp này.

c. Điện di ion

Phương pháp sử dụng xung điện ở cường độ thấp làm vô hiệu quá các tuyến mồ hôi ở bàn tay, bàn chân. Ngâm chân, tay vào trong một dung dịch ion, nơi có dòng điện một chiều chạy qua. Dòng điện cường độ 20 miliampe sẽ làm co các tuyến mồ hôi, khiến chúng tiết ra ít hơn, bạn có thể thấy tê tê ở cánh tay hoặc chân. 1 tháng đầu tiên thực hiện 3 buổi/tuần và mỗi buổi kéo dài 20 phút (với tay), 20 phút (với chân). Sau đó, tùy từng người sẽ tiếp tục được điều trị 2 – 4 lần/tháng. Hiệu quả trong vòng 5 – 6 tháng.

d. Phẫu thuật

  • Cắt bỏ tuyến mồ hôi (Sweat gland removal).

Áp dụng cho tăng tiết mồ hôi ở nách.

  • Cắt thần kinh giao cảm ngực (sympathectomy). chi tiết xem tại đây

Trong phẫu thuật này, phẫu thuật viên sẽ đốt hoặc cắt hạch thần kinh giao cảm điều khiển việc tiết mồ hôi ở tay, trong khoang ngực ở hai bên cột sống.

Trong một số trường hợp, phương pháp này làm tăng tiết mồ hôi bù trừ tại một số vùng khác của cơ thể.

Từ khóa:

chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay. chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay, chứng  tăng tiết mồ hôi tay, phẫu thuật diệt hạch giao cảm, mồ hôi tay, phẫu thuật điều trị ra mồ hôi tay, tăng tiết mồ hôi tay.

Tham khảo

  1. http://www.sweathelp.org/treatments-hcp/clinical-guidelines/primary-focal-hyperhidrosis/primary-focal-axillary.html
  2. https://www.uptodate.com/contents/primary-focal-hyperhidrosis?source=search_result&search=hyperhidrosis&selectedTitle=1%7E77
  3. http://emedicine.medscape.com/article/1073359-overview#a4
  4. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/hyperhidrosis/symptoms-causes/syc-20367152
  • Bs Nguyễn Ngọc Khánh
    Phẫu thuật Tiêu hoá và Nội soi.
  • Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!
  • GM: nnkhanh72@gmail.com

U thượng thận (U tuyến thượng thận-Adrenal gland tumor)

1. Giải thích về thuật ngữ. Để tránh nhầm lẫn thuật ngữ “tuyến” là gland và cũng là adenoma trong ngôn ngữ tiếng Việt nên bài viết dùng thuật ngữ thượng thận thay cho từ hay dùng là tuyến thượng thận (adrenal gland).

1.1. Giải phẫu-sinh lý: Có 2 (tuyến) thượng thận nằm rất sâu phía sau ngoài màng bụng 2 bên cột sống, rất cao(trên mỗi thận, dưới cơ hoành). Là những tuyến bé, bẹt cao 2 – 5cm rộng 3 – 5 cm, nặng khoảng 7-10g. Thượng thận gồm 2 phần: Tuỷ và vỏ.adrenalglandlocation

1.1.1.  Vỏ thượng thận là phần ngoài cùng của thượng thận. Trong vỏ lại có ba lớp, được gọi là “vùng”. Khi nhìn dưới kính hiển vi mỗi vùng có một diện mạo khác nhau, và mỗi vùng có một chức năng khác nhau.

  • Vùng cầu (glomerulosa zone) là vùng ngoài cùng của vỏ thượng thận ngay dưới lớp vỏ xơ của tuyến. Vùng này là nơi chính sản xuất aldosterone, một hormone điện giải (mineralocorticoids) có vai trò trong việc điều chỉnh huyết áp và cân bằng điện giải qua tác dụng giữ muối (NaCl) và thải Kali.
  • Vùng dải (fasciculata zone) nằm giữa vùng cầu và lưới (glomerulosa, reticularis). Các tế bào trong vùng này sản xuất glucocorticoid như cortisol. Đây là vùng lớn nhất trong ba vùng, chiếm gần 80% khối lượng của vỏ thượng thận, có tác dụng kích thích quá trình biến glycogen thành glucoza, tăng dự trữ mỡ, chống viêm, giữ muối (NaCl). Sự tiết glucocorticoid phụ thuộc chặt chẽ vào tuyến yên qua chất trung gian là A.C.T.H. A.C.T.H cao sẽ gây tiết nhiều glucocorticoid, nồng độ glucocorticoid tăng sẽ kìm hãm trở lại làm tuyến yên tiết ra ít A.C.T.H.
  • Vùng lưới (reticularis zone) là vùng trong cùng nằm tiếp giáp trực tiếp với tủy thượng thận. Nó sản xuất androgen, chủ yếu là dehydroepiandrosterone (DHEA), dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S), và androstenedione (tiền thân của testosterone) là các kích dục tố. Các tế bào nhỏ của vùng lưới hình thành các dây và cụm không đều, được phân cách bởi các mao mạch và mô liên kết. Ở đàn ông, 2/3 androgen là do thượng thận tiết ra, 1/3 là của tinh hoàn. Ở đàn bà, androgen hoàn toàn là do thượng thận tiết ra. Androgen bài tiết ra nước tiểu dưới dạng 17 xetosteroit.

1.1.2. Tủy thượng thận nằm ở trung tâm của mỗi (tuyến) thượng thận, và được bao quanh bởi vỏ thượng thận. Các tế bào sáng (chromaffin) của tủy là nguồn chính tiết ra các catecholamine (adrenaline và noradrenaline). Khoảng 20% noradrenaline (norepinephrine) và 80% adrenaline (epinephrine) được tiết ra ở đây. Tủy thượng thận được điều khiển bởi hệ thống thần kinh giao cảm qua sợi trước hạch (preganglionic) xuất phát từ tủy sống ngực (T5-T11). Bởi vì nó được phân bố bởi các sợi thần kinh trước hạch, tủy thượng thận có thể được coi như một hạch giao cảm đặc biệt. Tuy vậy không giống như các hạch giao cảm khác, tủy thượng thận thiếu các synapse thần kinh và giải phóng các chất tiết trực tiếp vào máu. Andrenaline và noradrenaline có tác dụng làm co thắt mạch trên toàn bộ hệ thống mạch, gây tăng huyết áp; làm giãn phế quản, giảm biên độ và tần số thở; điều hoà chuyển hoá đường, làm tăng glucoza máu bằng cách tăng quá trình chuyễn hoá glycogen thành glucosa.1818_The_Adrenal_Glands

 

1.2. U thượng thận bao gồm u lành tính hoặc ác tính của thượng thận. Một số trong số đó được chú ý đến do sản xuất thừa hormone nội tiết. Ung thư thượng thận là sự hiện diện của các khối u ác tính ở thượng thận, bao gồm u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma), ung thư biểu mô vỏ thượng thận (adrenocortical carcinoma) và một số u tể bào ưa chrome thượng thận (pheochromocytomas). Hầu hết u tể bào ưa chrome và tất cả các u tuyến thượng thận là những khối u lành tính, không di căn hoặc xâm lấn các mô lân cận, nhưng có thể gây ra vấn đề sức khỏe đáng kể bởi sự mất cân bằng hormone.

1.2.1. Các khối u của vỏ thượng thận: Vỏ thượng thận gồm ba lớp riêng biệt sản xuất các hormone steroid quan trọng là glucocorticoid điều tiết đường trong máu và hệ miễn dịch, cũng như phản ứng với stress sinh lý; các mineralcorticoid, điều hòa huyết áp và chức năng thận, và hormone giới tính nhất định. Cả hai khối u lành tính và ác tính của vỏ thượng thận có thể sản xuất hormone steroid, với những hậu quả lâm sàng quan trọng.

  • U tuyến vỏ thượng thận (Adrenocortical adenoma) là những khối u lành tính của vỏ thượng thận, rất phổ biến (1-10% trong mổ tử thi). Không nên nhầm lẫn với nốt (nodule) thượng thận, đó không phải là u đúng nghĩa. Hầu hết các u tuyến vỏ thượng thận có đường kính lớn nhỏ hơn 2 cm và dưới 5 gram trọng lượng. Tuy nhiên, kích thước và trọng lượng của khối u không đáng tin cậy để phân biệt u lành tính hay ác tính. Tuy vậy, u tuyến vỏ thượng thận có vỏ bọc, tròn đều, đơn độc, chắc, mặt cắt màu vàng đồng nhất, hiếm thấy hoại tử và xuất huyết. U tuyến vỏ thượng thận phổ biến ở những bệnh nhân trẻ hơn 30 tuổi, và có tỷ lệ cân bằng ở cả hai giới. Có thể phân chia nhóm này ra hai loại:
    • U không chức năng hay u phát hiện ngẫu nhiên (incidentaloma) chiếm phần lớn 85%, là u không chức năng hay không chế tiết với tần số ngày càng tăng trong những năm gần đây, do sự phát triển của phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT scan và cộng hưởng từ trong y tế.
    • U chức năng (functional) chiếm khoảng 15%, có khả năng xuất glucocorticoid-hội chứng Cushing, mineralcorticoids-hội chứng Conn (cường aldosteron), và/hoặc steroid sinh dục-nam hóa nữ giới, hoặc nữ hóa nam giới. Phẫu thuật là phương pháp điều trị khỏi các u tuyến tuyến thượng thận chức năng.
  •  Ung thư biểu mô vỏ thượng thận (Adreocortical carcinoma) là một ung thư hiếm gặp, ác tính cao của các tế bào vỏ thượng thận, có thể xảy ra ở trẻ em hoặc người lớn. Ung thư biểu mô vỏ thượng thận có thể có “chức năng”, sản xuất các hormon steroid và rối loạn chức năng nội tiết hậu quả tương tự như thấy trong nhiều u tuyến thượng thận và có thể không chế tiết. Do vị trí nằm sâu trong khoang sau phúc mạc, hầu hết các ung thư biểu mô vỏ thượng thận không được chẩn đoán cho đến khi đã phát triển khá lớn. Ung thư biểu mô vỏ thượng thận thường xâm lấn các mạch lớn, như các tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới; cũng như di căn qua hệ bạch huyết và qua đường máu đến phổi và các cơ quan khác. Việc điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng khả thi cho nhiều bệnh nhân, và tiên lượng chung của bệnh kém. Hóa trị, xạ trị và liệu pháp nội tiết có thể áp dụng trong điều trị bệnh này.

1.2.2. Các khối u của tủy thượng thận: Tủy thượng thận nằm ở trung tâm của mỗi tuyến thượng thận, và bao gồm các tế bào thần kinh nội tiết (chromaffin) sản xuất và giải phóng epinephrine (adrenaline) vào máu để đáp ứng với kích hoạt của hệ thống thần kinh giao cảm. Neuroblastoma và pheochromocytoma là hai loại u quan trọng nhất phát sinh từ tủy thượng thận. Cả hai loại u này cũng có thể phát sinh từ các vị trí ngoài tuyến thượng thận, cụ thể, trong vùng cận hạch của chuỗi giao cảm.

  • Neuroblastoma là một ung thư rất ác tính của các nguyên bào thần kinh (tiền thân của tế bào thần kinh) và là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở trẻ em, với độ tuổi trung bình lúc chẩn đoán là hai tuổi. Neuroblastoma thượng thận thường biểu hiện là một khối u bụng lớn lên một cách nhanh chóng. Các u liên quan, ít ác tính hơn của các tế bào thần kinh trưởng thành hơn bao gồm u nguyên bào hạch thần kinh (ganglioneuroblastoma) và u hạch thần kinh ganglioneuroma. Neuroblastoma thường tăng tiết tiền chất hormone catecholamine như axit vanillyl (VMA) và homovanillic acid gây tiêu chảy nghiêm trọng thông qua việc sản xuất các peptide vận mạch ruột. Điều trị bao gồm phẫu thuật cắt bỏ u, xạ trị cho bệnh căn tại chỗ, hóa trị liệu cho bệnh di căn.
  • Pheochromocytoma là một khối u bao gồm các tế bào tương tự như tế bào chromaffin của tủy thượng thận trưởng thành. Pheochromocytomas có ở mọi lứa tuổi, có thể độc lập, hoặc liên kết với một hội chứng ung thư di truyền, chẳng hạn như đa u thần kinh nội tiết (Multiple endocrine neoplasma-MEN) loại IIA và IIB, u xơ-thần kinh (neurofibromatosis) loại I, hoặc hội chứng von Hippel-Lindau. Chỉ có 10% pheochromocytomas thượng thận ác tính, phần còn lại là lành tính. Lâm sàng quan trọng nhất của pheochromocytomas là khả năng sản xuất lượng lớn các catecholamine hormon, đe dọa đến tính mạng do cao huyết áp, loạn nhịp, và nhiều triệu chứng khác như nhức đầu, đánh trống ngực, cơn lo âu, ra mồ hôi, giảm cân, run. Chẩn đoán khẳng định dễ dàng bằng đo nồng độ của các chất chuyển hóa catecholamine như VMA và metanephrines trong nước tiểu. Hầu hết pheochromocytoma được điều trị ban đầu với các thuốc kháng adrenergic, phẫu thuật được sử dụng để loại bỏ khối u khi bệnh nhân ổn định.

1.2.3. Incidentaloma để chỉ u thượng thận được tìm thấy ngẫu nhiên ở người không có triệu chứng lâm sàng hoặc nghi ngờ. Trong những trường hợp này cần xét nghiệm để phát hiện cortisol, metanephrines hoặc catecholamine dư thừa. U nhỏ hơn 3 cm thường được coi là lành tính và chỉ được điều trị nếu có hội chứng Cushing hoặc là pheochromocytoma. Trên CT scan, u tuyến lành tính thường có mật độ chụp ảnh phóng xạ thấp và thời gian rửa thuốc cản quang nhanh (50% hoặc nhiều lần). Nếu việc đánh giá nội tiết âm tính và hình ảnh cho thấy lành tính, theo dõi bằng hình ảnh được xem xét với tần suất 6, 12 và 24 tháng và lặp lại đánh giá nội tiết tố hàng năm trong 4 năm.

Ca bệnh lâm sàng:

Bệnh nhân thứ nhất, nữ 47 tuổi, với 2 năm cao huyết áp, người luôn mệt mỏi, không thấy biểu hiện bất thường nào về ngoại hình. CT scanner phát hiện u thượng thận trái đường kính lớn nhất 1.6cm.

Xét nghiệm máu K+ luôn thấp và Aldosterone tăng gấp 5 lần bình thường.

adrNTMT1
CTscanner: Khối u thượng thận trái

Với những u nhỏ, nằm sâu như u thượng thận, đường mổ hạn chế khi đi sau phúc mạc việc định vị vị trí u trước phẫu thuật rất quan trọng.

adrNTMT
CTscanner Dựng hình định vị khối u trước mổ

Xét nghiệm máu K+ luôn thấp và Aldosterone tăng gấp 5 lần bình thường. Được chẩn đoán u tuyến vỏ thượng thận-Hội chứng Conn. Phẫu thuật điều trị  qua nội soi ngoài phúc mạc cắt thượng thận trái được chỉ định.

IMG_20160531_145745
Hình 1. Khối u thượng thận trái có kích thước 1.5cm, tương đối tròn, nhẵn mầu vàng. Thủ phạm gây tăng huyết áp và giảm Kali máu.

Sau mổ hai tuần huyết áp, mạch người bệnh trở về bình thường, không cần dùng thuốc, không cần bù Kali.

Bệnh nhân thứ 2, nữ 41 tuổi, với triệu chứng và u tương tự như ca thứ nhất. Ctscanner cho thấy một khối u thượng thận bên phải.

IMG_20160519_122845

Ca bệnh thứ 3. Nữ 45 tuổi, không có triêu chứng lâm sàng và sinh hóa, ngẫu nhiên phát hiện u thượng thận phải với đường kính trên 4cm. Chỉ định phẫu thuật vì u có kích thước trên 4cm.

adrNTH1
CTscanner: Khối u thượng thận trái

Ca bệnh thứ 4. Nam giới 57 tuổi, khám bệnh vì đau bụng do sỏi túi mật ngẫu nhiên phát hiện u sau phúc mạc đường kính 6cm, không triệu chứng. Được cắt bỏ nội soi qua đường bụngcùng với túi mât. Giải phẫu bệnh sau mổ là một u tủy thượng thận.

adrVTQ2
U lớn thượng thận trái bắt thuốc mạnh

Tham khảo:

https://www.aace.com/files/adrenal-guidelines.pdf

http://www.surgery.usc.edu/divisions/tumor/pancreasdiseases/web%20pages/Endocrine%20tumors/adrenal/adrenal%20tumors.html

http://www.cancer.net/cancer-types/adrenal-gland-tumor/symptoms-and-signs

http://emedicine.medscape.com/article/116587-overview

Bs Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành Phẫu thuật tiêu hoá.

Tel: 0982.608.115 (Các bạn có thể để lại tin nhắn. Xin không gọi!

GM: nnkhanh72@gmail.com

YM: nnkhanh72@yahoo.com